Vừa nhắc đến câu 'đi một ngày đàng, học một sàng khôn' tuần trước thì
tuần này tôi đã thấy ngay định nghĩa của câu nói này. Cho chính mình.
Vậy mới đáng kể.
Số là dạo này tôi ít có thời gian đi du lịch, ít có dịp tìm đến thiên
nhiên, leo núi cao, bơi trên biển vắng. Là những nơi mà tôi thích tìm
đến nhất.
Một phần vì công việc của tôi dạo này quá ư là bận rộn. Nhưng phần lớn
tôi tự cảm thấy là từ khi có con, tôi có phần lo hơn.Lo cho nó mỗi khi
có dịp ở gần nó. Lo kiếm tiền để trả mỗi tháng, tiền ăn, tiền tã, tiền
nhà. Mà ai ở Mỹ cũng biết đây không phải là một khoản nhỏ. Mỗi tháng tốn
một, hai ngàn đô là chuyện thường.
Bởi thế thời gian sau này tôi bận đi làm hơn là đi chơi, đi show...miễn
phí. Hoặc ngay cả khi đi show miễn phí để gây quỹ giúp người tỵ nạn thì
tôi cũng lo tranh thủ bán băng, bán sách để kiếm tiền nuôi con. Là điều
mà tôi chưa bao giờ làm trước đây. Tuy không lời được là bao nhưng cũng
đủ để trang trải mọi chi phí trong cuộc sống.
Tôi có phần may mắn là thế. Vì vừa có việc làm, được sống với lý tưởng
của mình, lại vừa tự nuôi được bản thân và người mà mình yêu quý nhất.
Nếu đó không phải là may mắn thì là gì, phải không bạn?
Sự may mắn của tôi không chỉ dừng ở đó. Như đã có lần chia sẻ ở đây, tôi
còn được may mắn là có rất nhiều bạn. Những người bạn, những thằng bạn
hết tình, hết nghĩa và luôn hết lòng đối với mình. Và cả với lý tưởng
của mình.
Văn phòng tôi cần một cái ti vi, hai cái giường ngủ? Xin có ngay. Tôi
cần gây quỹ để giúp cho những thuyền nhân cuối cùng? Cứ cho biết ngày
nào tôi rảnh, sẽ có người đứng ra lo mọi việc. Gia đình, bạn bè tôi
không ai cần gì ở nơi tôi. Ngược lại, lúc nào hay ở đâu tôi cần họ, họ
đều có mặt. Kể cả những khi tôi cần họ vì việc tư chứ không phải chuyện
công. Như ngay trong lúc này, tôi đang ở trên một đảo vắng. Cách thủ đô
Manila, Philippines gần 2 giờ bay, 2 giờ xe và một chuyến tàu mới đến
đảo. Tôi có một thằng bạn ở đây. Nó có cả một cơ ngơi, phòng ốc, người làm,
ca nô, thuyền buồm đậu ngay trước nhà. Mà bất cứ lúc nào tôi cũng có thể
đến, nghỉ ngơi, lấy lại sức. Mà không phải tốn một đồng xu nào. Thế vậy mà sau gần 5 năm lần lựa, hứa mãi hôm nay tôi mới có dịp xuống
đây để thăm nó. Mặc dù tính ra thì tôi chỉ bỏ ra vỏn vẹn có 2 ngày. Nhưng nói thật nếu lần này không có cô em gái và đứa cháu sang chơi thì
chắc có lẽ tôi cũng chưa có thời gian để sắp xếp xuống thăm. Vì thứ nhất, tôi thấy hình như những khi rảnh rỗi chúng ta chỉ thường
quen làm, đi đến những nơi quen thuộc. Những nơi ít buộc chúng ta phải
suy nghĩ, tính toán. Cũng vì vậy mà ít khi chúng ta 'có thời gian' đối
với những nơi xa lạ, những công việc mà chúng ta chưa quen.
Như tôi đây không phải là trong thời gian vừa qua tôi không thể nào tìm
được hai ngày rổi rảnh vào cuối tuần. Mà đơn giản là vì tôi chưa biết rõ
có cái gì đáng xem, có thể tận hưởng ở đây hay không. Nên nếu có rảnh
một, hai ngày thì tôi cũng chỉ quanh quẩn ở nhà, nghỉ xả hơi, đọc sách.
Hoặc lên net
Thứ hai, tôi thấy ngày càng lớn hình như chúng ta ít chịu khám phá hơn.
Cũng có thể đối với một số người, đó là vì lý do sức khỏe. Nhưng phần
lớn tôi nghĩ lý do là vì đối với những ai đã và đang đi vào cái độ tuổi
'tứ thập nhi bất hoặc', chính vì chúng ta đã biết chúng ta là ai, thích
làm gì nên ít khi chúng ta chịu bứng mình ra khỏi cái vòng an toàn ấy.
Để tìm đến những nơi sẽ làm mình bận lòng, nhọc xác. Như tôi đây hôm trên đường xuống đây, cứ tự nhủ thầm: ủa, sao mình có
thể điên đến thế?
Đường thì vừa xa, trắc trở, nơi mình đến lại không
biết có cái chi, internet cũng chẳng có. Xuống tới nơi có cái răng mà
làm?
Nhưng tôi đã lầm.
Và đó cũng là cái sàng thứ ba mà tôi đã vừa nghiệm ra
được. Đó là phải chịu đi, biết dấn thân thì chúng ta mới học được nhiều
điều hay, thấy nhiều cảnh lạ. Càng lớn tuổi, chúng ta càng phải cảnh
giác là chúng ta rất dễ chấp nhận với hiện tại và bằng lòng với viễn ảnh
ở tương lai. Mà không biết rằng ở ngoài kia, trên thế giới này, vẫn còn
rất nhiều người, bao nhiêu công việc đang chờ đón chúng ta. Và hàng
ngàn, hàng vạn núi cao, biển rộng đang chờ chúng ta leo cao, vùng vẫy.
Cũng nhờ có chuyến đi này mà tôi có dịp tìm hiểu cũng như chia sẻ thời
gian với thằng cháu duy nhất của tôi. Chưa kể đến mẹ nó là cô em kế tôi
mà mỗi năm tôi cũng chỉ có dịp gặp một, hai lần. Tôi rất vui lần này
mình đã có dịp lặn sâu trên biển với nó.
Chỉ cho nó cách nhảy từ vách đá
cao xuống bể sâu.Tôi cũng nghĩ ít nhiều tôi đã hiểu rõ hơn về thằng bạn của tôi. Đặc biệt
là trí tưởng tượng phong phú và sự quyết tâm của nó. Thật không ngờ là
chỉ sau 5 năm, từ một nơi hoang vắng, ở một nơi có thể gọi là 'khỉ ho,
cò gáy' nằm ở tận phía nam nước Phi trên quần đảo Mindanao mà vừa mới
nghe tên, ai không biết rõ cũng đều sợ, nó đã xây lên được cả một cơ
ngơi thơ mộng, thanh tịnh như thế này. Một nơi vừa có biển trong, xanh
ngắt một màu, những bờ cát trắng nối dài từ đảo này sang đảo khác. Đó,
trước mặt là biển nhưng sau lưng nhà là cả một hồ nước rộng mênh mang,
tĩnh lặng bao quanh hàng chục ngọn núi lớn nhỏ chỉ có tiếng chim kêu và
gió xào xạc trên đồi. Thật không có gì đẹp. Và còn gì yên tĩnh, hoang sơ hơn nơi này bạn ạ.
Và đấy cũng là điều cuối cùng mà tôi đã vừa chiêm nghiệm được cho chính
mình trong đêm nay. Đó là đôi khi chúng ta phải đến một nơi hoàn toàn xa
lạ chúng ta mới thấy điều gì đáng nhớ, việc gì đáng buông. Phải thật
lặng chúng ta mới biết được chúng ta là ai. Và phải thật xa chúng ta mới
cảm nhận được ai là người chúng ta trân trọng nhất. Trịnh Hội @@ tks for sharing t/g TH!
Charles Phan, 50 tuổi, đã ra mắt cuốn sách mang tựa đề "Vietnamese Home Cooking".
Phan cho biết cuốn sách gồm 226 trang, có giá $35 dollar ,
đơn giản là sách hướng dẫn cách nấu món ăn Việt tại nhà, cung cấp hiểu
biết chung về nền ẩm thực Việt Nam, cách thưởng thức món ăn.
Đặc biệt,
cuốn sách tiết lộ những câu chuyện thú vị đằng sau những món ăn có trong
thực đơn của Slanted Door từ khi mở cửa năm 1995 và kỹ thuật nấu nướng
khiến những món ăn ở đây trở nên đặc biệt.
Cấu trúc cuốn sách của Phan không sắp xếp theo món ăn
mà theo kỹ thuật nấu.
Anh cho rằng mọi người chỉ thường mua sách để biết
một công thức nấu ăn mà không hiểu được những quy tắc cơ bản và cách
kết hợp các nguyên liệu.
"Nếu bạn học cách chiên, xào, om, nướng, cách kiểm soát ngọn lửa, bạn có thể làm bất cứ điều gì", San Jose Mercury News
dẫn lời anh.
"Về cơ bản cuốn sách tương tự những gì chúng tôi đang làm ở
Slanted Door, quảng bá ẩm thực Việt với những nguyên liệu địa phương",
anh nói.
Sinh ra ở Đà Lạt, Phan cùng cha mẹ và anh em rời Việt
Nam đến đảo Guam năm lên 13 tuổi.
Mẹ anh khi đó đang làm hai công việc
một lúc và anh chịu trách nhiệm nấu ăn cho cả gia đình.
Họ trải qua hai
năm ở đó trước khi đến San Francisco định cư năm 1977.
Anh bắt đầu đi làm ở nhà hàng khi đang học cấp ba. Mỗi
tuần Phan làm việc 3 buổi tối, cho đến tận hai giờ sáng và nấu bữa ăn 6
món cho 5 người bạn trong phòng ký túc xá. "Mọi người nghĩ tôi bị dở
hơi", anh kể.
Vào năm thứ ba đại học, Phan tham gia một cuộc biểu
tình về học phí và buộc phải nghỉ học.
Anh trải qua nhiều công việc
nhưng không thành công và quyết định đi du lịch một thời gian.
Tuy
nhiên, trong tâm trí anh, ước mơ về một nhà hàng vẫn luôn day dứt.
Bước ngoặt của cuộc đời Phan là khi anh đến châu Á năm
1994 và quyết định rằng "mình phải làm việc cho chính mình". Thế rồi
nhà hàng Việt Nam Slanted Door ra đời một năm sau đó.
Đây là nhà hàng
Việt Nam đầu tiên chuyên phục vụ các món ăn Việt chất lượng cao trong
vùng, với các nguyên liệu địa phương tươi ngon nhập trực tiếp từ trang
trại.
"Thừa thắng xông lên" sau Slanted Door, ông chủ Phan
phát triển một "đế chế nhà hàng" nhỏ ở vùng vịnh San Francisco với những
nhà hàng như Heaven's Dog, Academy Cafe hay Wo Hing General Store.
Năm
2004, anh giành giải Đầu bếp Giỏi nhất của Quỹ James Beard, giải thưởng
được xem là "Oscars của Ẩm thực" Mỹ.
Phan cho biết bí quyết để nấu ngon là trước hết phải học cách ăn.
"Khi bạn thưởng thức nhiều món ăn ngon, bạn bắt đầu
xây dựng cho mình vốn từ vựng về hương vị.
Bạn hình dung ra hình ảnh món
ăn và cách để làm chúng", anh nói.
"Đừng chỉ đến và nói với tôi rằng
thức ăn rất tuyệt.
Tôi nói thế với tụi trẻ con nhiều rồi.
Mục tiêu của
tôi là thực sự khiến mọi người nghiện thức ăn ngon. Có nhiều thứ gây
nghiện, như ma túy, nhưng tôi nghĩ nghiện thức ăn thì tốt hơn, vì chúng
ta tìm thấy niềm vui trong đó".
Cùng với giọt thời gian...
Xuân qua.
Đông đến.
Thu tàn.
Hạ sang...
Ở nơi cõi vô thường này, "hạnh phúc chẳng bao giờ là vĩnh cửu và tất
nhiên khổ đau cũng sẽ không bao giờ là mãi mãi!". Sẽ có vui có buồn, có
sướng có khổ... đan xen, xâu chuỗi trong suốt một kiếp người.
Ở nơi cõi vô thường này, mọi sự xung quanh ta đổi thay. Và ta cũng
thay đổi. Đó là khi ta nghe thật nhiều rằng, giờ ta đã lớn rồi, giờ ta
đã khác rồi, giờ ta khác quá!
-Ta không biết ta như thế là "thay đổi" hay là "trưởng thành". Ta có thay đổi hay không?
-Ừ! Thì cũng đúng thôi, cuộc sống là cõi vô thường. Cõi vô thường với
biết bao điều biến hóa mà chẳng lẽ ta lại mãi sống với những điều đã cũ,
sống với ta đã cũ!
-Nhưng liệu rằng, ta đang sống hay chỉ đang tồn tại? Hay là ta chỉ ở trọ nơi trần gian này?
-Sống lâu đã gọi là sống chưa? Hay là tồn tại trong thời gian dài, ngủ im trong khi thế giới ngoài kia thức?
-Ta những mong một cuộc sống bình yên giữa chốn vô thường, bình yên
theo cách nghĩ của ta nhưng ta đọc được đâu đó rằng: "Bình yên không
phải là khi ta sống ở một nơi yên tĩnh, mà ngay cả ở nơi ồn ào nhất, lúc
gặp khó khăn nhất trong cuộc đời, ta vẫn thấy lòng mình thanh thản,
không gợn chút bâng khuâng".
-Ta chợt nhớ mình có khá nhiều chuyện phải làm, khá nhiều việc phải giải
quyết, quá nhiều người để yêu thương, nhiều thứ để bận tâm.
- Trong cuộc sống bộn bề lo toan, phiền muộn, ước mong, hy vọng này,
liệu ta có đủ sức để giữ cho ta một trái tim, tâm hồn và cuộc sống bình
yên?
Ta còn nhiều việc dang dở, nhiều thứ mà từ khá lâu rồi ta cứ tặc lưỡi để
trôi qua từng giờ từng phút... rồi khi chợt ngoảnh đầu nhìn lại, có quá
muộn hay không?
- Ta phải giải quyết chúng đi thôi.
-Ta còn có quá nhiều người để yêu thương và được yêu thương. Ta được
nuôi lớn, được sống trong chính tình yêu thương đó, vậy mà...
Ta luôn
cho rằng cái ta gọi là "tình cảm của riêng ta" vẫn nguyên vẹn, ta bảo
thủ và nói "không ai hiểu được ta".
- Ta lặng lẽ để sống với cái ý nghĩ ngông cuồng ấy. -Ta làm tổn thương
những người mà ta yêu thương và cũng chính là những người yêu thương ta
hết lòng. Ta hãy sám hối để được tha thứ đi thôi.
-Ta mong sao có thể sống trọn vẹn mỗi ngày nơi chốn vô thường này!
- Nơi mà mọi thứ đều chuyển động theo cách riêng của nó và chắc chắn
rồi, ta và bạn đang cùng chuyển động nhịp nhàng từng phách từng phách
một với nó đấy thôi!
Đà
Lạt đó, đất của những rừng thông ngàn năm thì thầm với gió. Đất của
suối, của hoa và của những người con gái hai má đỏ hồng. Và ở đó, cũng
là nơi xuất thân của những người trai luôn luôn tâm niệm nam nhi chí tại
bốn phương, lấy hình ảnh oai hùng của kẻ gác ngang ngọn giáo vào ngàn
hang beo làm biểu tượng. Nhắc đến Đà Lạt là có cả ngàn điều để nhớ, trăm
điều để thương.
Con đường dốc quanh co, với hai hàng thông
trồng dọc hai bên đường, một đầu là khu phố Hoà Bình, trái tim của Đà
Lạt, một đầu là quân trường nổi tiếng, trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, nơi
đào tạo những người luôn lấy hình ảnh của bốn chữ Tang Bồng Hồ Thỉ làm
lý tưởng, cái biểu tượng hào hùng đó cũng là một trong những nghi thức
không thể thiếu trong ngày mãn khóa: sinh viên thủ khoa của khóa, trước
lễ đài, một chân quỳ gối, một tay cầm cung, một tay giương tên, bắn đi
bốn hướng. Những mũi tên bắn đi từ những người trai Võ Bị đó, đã có
nhiều mũi bắn vào tim giai nhân bốn phương.
Gần nhất là những người con
gái đôi má đỏ hồng của Đà Lạt. Người đến, đến từ muôn phương, người đi,
đi về vạn nẻo, để lại nhiều thiên tình sử trong cái thành phố nhỏ bé
này... Con đường từ phố Hoà Bình, một khu phố nhỏ, dễ thương,
lúc nào cũng có hình ảnh của những đôi tình nhân khắp nơi đến. Đến tìm
cái lạnh co ro, tìm sự gần gũi nhau hơn trong bầu trời sương mù của Đà
Lạt. Con đường đổ xuống bên dưới chân phố, bọc theo hồ Xuân Hương, với
cà phê Thủy Tạ, với những chiếc Pédalo lượn lờ trên mặt nước, đưa đôi
tình nhân vào cõi mộng mơ. Qua khỏi hồ Xuân Hương, con đường bắt đầu có
độ dốc cao dần, rồi đến nhà ga, cũng là Trạm Hàng Không Dân Sự.
Qua khỏi
nhà ga, một đường rẽ lên Trại Hầm, vùng đất của những trái mận no tròn,
chỉ nhìn qua là muốn cắn ngay. Một đường cứ đi tiếp, sau chừng bốn, năm
cây số đã vào địa phận của trường Võ Bị Đà Lạt. Quanh co qua những khu
trồng rau xanh mướt, bên phải là hồ Than Thở. Chỉ nghe tên thôi cũng đủ
tưởng tượng được cảnh hồ đẹp và buồn đến đâu. Qua khỏi hồ Than Thở, với
những khúc lượn vòng trên những đồi thông là đến cổng trường. Một mối
tình nào đó, bắt đầu sự gặp gỡ có thể trong quán cà phê, hay tại một
gian hàng hoa trong chợ Hoà Bình, hoặc ngay trên những con đường phố Đà
Lạt, để hẹn hò bên hồ Xuân Hương, đưa nhau đến đổ lệ bên hồ Than Thở,
rồi chia tay nhau tại nhà ga, và biệt ly, nhớ nhung từ đây...
Tất cả
diễn ra trên con đường đó, và con đường có thể giản dị mà đặt tên: Con
Đường Tình Sử. Đoạn đường từ hồ Than Thở đến cổng chính của
trường là một đoạn đường rất đẹp. Đường tráng nhựa êm ái, chạy quanh co
trong những đồi thông thật thơ mộng. Một trạm kiểm soát trước khi vào
cổng chính mang tên cổng Thái Phiên. Cổng chính của trường nhìn ra đồi
núi chập chùng. Cổng sau của trường, cổng Lý Thường Kiệt, ngõ ra khu phố
Catina, một khu phố nhỏ mang tên một khách sạn lớn ở đây, khách sạn có
từ thời Pháp thuộc. Một cổng phụ nối liền với trại gia binh của trường
là cổng Mê Linh. Trường Võ Bị nằm trên một khuôn viên rất rộng. Từ cổng
Thái Phiên đi vòng qua cổng Lý Thường Kiệt cũng phải mất gần mười lăm
phút lái xe. Ngoài ba cổng chính trường còn có nhiều cổng không tên khác
mà chỉ có sinh viên sĩ quan và Quân Cảnh 302 của trường biết mà thôi.
Từ những cổng không tên đó, trong một đêm sương mù phủ xuống dày đặc, có
những sinh viên sĩ quan đa tình, liều lĩnh lén rời trường để đến một
nơi nào dưới phố, dưới một mái nhà, có người con gái đang ngồi trong
khung cửa chờ mong.
Những sinh viên sĩ quan dám đi qua những cổng không
tên đó, thường thường đã là niên trưởng. Chứ các Cùi mới năm thứ nhất
thì còn 'cùi' lắm, khó lọt mắt xanh của người đẹp. Mà không có người đẹp
chờ mong, thì chẳng lẽ liều lĩnh trốn ra khỏi trường chỉ đến dốc Duy
Tân uống một ly sữa đậunành nóng rồi lại trở vào hay sao? Và để tiếp nối
truyền thống đó, khi các niên trưởng gần đến ngày ra trường, cũng vui
vẻ bàn giao lại cho đàn em những cổng không tên này, để rồi bao nhiêu
mối tình đã nở và biết bao con tim đã héo mòn.
Một người con gái kể cho
tôi nghe chuyện tình của nàng, một Chinh Phụ Ngâm Khúc của người con gái
mới hai mươi hai tuổi tròn. Buổi
chiều từ trường về, Quyên nhận được thư Nguyên. Phong bì đóng dấu Bưu
Điện Nha Trang, chứ không gửi qua Quân Bưu.
Anh chàng lại trốn ra phố
Nha Trang chơi rồi, Quyên nhủ thầm.
“Quyên của anh,
Ngày
mai, thứ hai, anh làm lễ mãn khóa ở trường Dù. Đúng ra còn nợ trường
này một saut nữa, nhưng saut cuối cùng để dành nhảy về trường mẹ. Sáng
thứ ba, lúc 10 giờ, em đến ngoài cổng Mê Linh, nhớ mang theo ống dòm.
Người nhảy xuống đầu tiên là Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng. Người thứ nhì
là anh: Thủ Khoa Khóa Dù. Em đứng chỗ nào cho dễ thấy, anh sẽ đáp ngay
trước mặt em. Gặp nhau sau. Thương nhiều.”
Thư Nguyên lúc nào
cũng vậy, ngắn gọn và đùa cợt. Thủ khoa của khóa Dù! Thật là cứng đầu,
nói mãi không chịu nghe. Ba mẹ đã hăm rồi, ra trường mà chọn mấy cái
binh chủng đồ bông, đồ rằn để miệt mài ngoài chiến trận là đừng hòng gả
con gái cho.
Ba đã có lần nói thẳng với Nguyên: 'Sống ở đời, khôn ngoan
là ai sao mình vậy. Học đủ để ra trường là được rồi. Ra trường sẽ gửi
gắm về làm ở thành phố cho an nhàn tấm thân, lại có thì giờ lo cho vợ
con sau này'. Nguyên cười, dạ dạ, rồi những lời khuyên bảo cũng như nước
chảy qua đá trên thác Cam Ly. Nhớ lần đầu tiên gặp Nguyên,
Quyên không hiểu tại sao sau này mình lại thương được người đã làm mình
tức đến khóc được. Buổi sáng thứ bảy đó, Quyên và em trai đi phố mua sắm
mấy thứ lặt vặt, rồi hai chị em vào Mê Kông uống nước. Buổi sáng cuối
tuần nào khu phố Hoà Bình cũng đầy bóng dáng những sinh viên sĩ quan Võ
Bị trong bộ đại lễ bốn túi mùa đông, dáng người thẳng, bước chân vững
chải, nụ cười, ánh mắt tự tin.
Buổi sáng hôm nay trời Đà Lạt thật đẹp,
nắng rực rỡ trên những cành Mimosa đang bắt đầu nở hoa vàng. Khu phố nhỏ
bé này có vẻ ồn ào hơn, vì hôm nay là ngày được ra phép đầu tiên của
một khóa Võ Bị vừa xong thời gian huấn nhục, mới làm lễ gắn Alpha tối
hôm qua.
Lần ra phép đầu tiên cứ như là cọp sút chuồng, mấy anh chàng
sinh viên sĩ quan vừa hung hăng, phá phách, vừa mang cái nét thật ngố
trong bộ đại lễ mặc lần đầu. Tóc của mấy chàng còn ngắn đúng kiểu mẫu,
cử chỉ cứng nhắc, nét mặt nửa ba gai, nửa còn khớp vì bị hành tận mạng
trong những ngày huấn nhục vừa qua. Họ phá phách như là một truyền
thống.
Trường dễ dãi cho lần ra phép đầu tiên sau ngày lễ gắn Alpha,
miễn là không quá trớn. Nguyên ngồi bàn kế bàn Quyên, cùng với mấy người
bạn đồng khóa.
Họ ăn uống, cười nói có vẻ thỏa thích với những giây
phút tự do ngắn ngủi, rồi bắt đầu tìm những mục tiêu để phá. Mục tiêu
của họ là những chàng trai híp-py, tóc để dài như con gái. Thanh niên Đà
Lạt đã quen với truyền thống này rồi. Hễ cuối tuần mà có khóa Võ Bị nào
vừa làm lễ gắn Alpha, ngày mai được ra phép là họ tránh không xuống
phố, để 'văn' và 'võ' khỏi đụng nhau lôi thôi. Hoàng kẹt đi với chị nên
đành chịu trận. Quyên ngồi im không nói gì, cho đến khi một người trong
bàn của Nguyên đòi qua cắt tóc Hoàng thì Quyên phản ứng ngay. Quyên lấy
bút, nhìn bảng tên trên ngực áo của anh chàng này, giọng thách thức: - Anh dám làm không? Nguyên nảy giờ chưa dự phần, vội đứng lên ngăn lại: - Thôi thôi, mình đi phố chơi, đừng chọc bà chằng này nữa.
Quyên
tức muốn phát khóc, trợn mắt nhìn thẳng mặt người vừa gọi mình là bà
chằng. Vầng trán rộng, nét mặt cương nghị lẫn chút bướng bỉnh, dáng
người dong dỏng cao và thẳng. Vài tuần nữa bớt cái nét ngố của một anh
Cùi vừa mới gắn Alpha thì coi cũng được, Quyên nhủ thầm, nguýt dài một
cái, đuôi mắt quét rụng cả mấy búp hoa của cành Mimosa chưng trên quầy. Làm
như có duyên có nợ gì đó, những tuần kế tiếp họ lại đụng đầu nhau trong
phở Tùng, trong cà phê Thủy Tạ... Và một buổi sáng thứ Bảy, mẹ bảo
Quyên ra chợ mua vài ký mận để về Sài Gòn biếu bà con. Lựa mận xong,
Quyên đang loay hoay không biết thế nào để bê mấy bao mận nặng chĩu này
ra xe lam, thì một bàn tay đỡ nhẹ: - Tôi mang dùm cô về tận nhà. Và
không cần biết Quyên có đồng ý hay không, Nguyên vẫy taxi. Quyên cũng
không hiểu sao lúc đó mình lại thụ động như vậy. Riu ríu lên xe và để
cho Nguyên mang mấy bao mận vào tận nhà, chào bác trai, chào bác gái, tự
nhiên như quen biết đã lâu ngày. Bốn năm trôi qua. Đối với
những người con gái đã yêu người trai Võ Bị, bốn năm, mỗi ngày tính bằng
một tuần. Như vậy, bốn năm rút lại còn được bao nhiêu ngày? Và mỗi ngày
gặp nhau được bao nhiêu giờ? Rồi Nguyên làm lễ mãn khóa.
Chàng
vẫn là thủ khoa của khóa. Vẫn giữ truyền thống của người theo nghiệp võ
tự ngàn xưa. Trong lễ mãn khóa, chàng đã giương cây cung bắn bốn mũi tên
ra bốn hướng, để biểu tượng chí tang bồng hồ thỉ của kẻ nam nhi. Rồi
chàng rời Đà Lạt như một mũi tên rời dây cung, để lại cho Quyên khắp mọi
nơi, mọi nẻo trong cái thành phố nhỏ bé lạnh lẽo đầy sương mù này, đâu
đâu cũng là kỷ niệm... Những gì Quyên mong đợi bây giờ là những
bức thư ngắn ngủi, từ những địa danh xa lạ gửi về. Thư mới nhận hôm qua
cũng ngắn như một bức điện tín:
“Quyên của anh, Vừa chiếm
lại Quảng Trị. Trận đánh thật khốc liệt, dành nhau từng tấc đất. Xong
rồi. Ngày mai xin 12 giờ phép, phóng xe vào Huế ăn tô bún bò cho biết
cay đến đâu và nhìn xem nữ sinh Đồng Khánh đi học qua cầu Trường Tiền
đẹp như thế nào. Mong em luôn luôn vui vẻ. Thương nhiều.” Nguyên
đi biền biệt. Gót giày hành quân của chàng dẫm qua không biết bao nhiêu
là địa danh. Mỗi năm được về phép mấy ngày, chia ra cho gia đình ở Sài
Gòn vài ngày, cho Quyên ở Đà Lạt vài ngày, còn lại cho bạn bè. Nguyên
được thăng cấp rất nhanh bởi những chiến công vẻ vang. Những hoa mai
trên cổ áo của Nguyên là do chính tay Quyên thêu trong những lần Nguyên
về phép. Cứ mỗi lần thêu thêm một hoa mai cho Nguyên là lòng Quyên lại trỉu nặng thêm một ít. Một câu nói nửa đùa nửa thật của người bạn học
cùng lớp, mà mỗi lần nhớ đến, đã làm cho Quyên cảm thấy chới với như
người mất đà vì bắt hụt vào chiếc bóng: - Lấy chồng Võ Bị thì chớ có lấy thủ khoa. Thủ khoa nào của Võ Bị cũng sớm được tổ quốc ghi ơn... Bước
vào Võ Bị là Nguyên đã chọn con đường binh nghiệp. Suốt bốn năm miệt
mài rèn luyện cả văn lẫn võ. Nguyên hãnh diện với sáu chữ: Sinh Viên Võ
Bị Đà Lạt. Nguyên muốn mình xứng đáng với niềm hãnh diện đó, trong
trường, ngoài quân sự và văn hoá, Nguyên học quyền thuật, kiếm thuật,
học cỡi ngựa, chơi đàn, nhảy đầm rất đẹp, pha coctail rất ngon. Ra trận,
Nguyên đánh giặc rất gan lì. Tất cả để giữ cái truyền thống của hai chữ
'Đa Hiệu' mang trên vai. Và luật của tạo hoá là như vậy: truyền thống
càng hào hùng, định mệnh càng khắc nghiệt. Quyên biết mình chỉ
là sợi tơ, không thể nào buộc nổi một cánh chim bằng với hào khí đang
còn ngất trời. Chỉ còn biết chờ, chỉ còn biết đợi. Đợi chờ cho đến ngày
chim bằng mỏi cánh, hoặc là... Quyên không dám nghĩ đến. Không
dám ích kỷ mong muốn Nguyên dừng chân bằng một sự hy sinh quá lớn. Mà
thật sự thì Nguyên đã hy sinh, hy sinh cả một tuổi thanh xuân của chàng
cho chiến trận, hy sinh cả một tình yêu như mật ngọt trong khung trời Đà
Lạt mộng mơ này, để lăn mình vào nơi gió cát...