Trang

Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Phút Giao Thừa Lặng Lẽ














Em ngồi đây chờ  phút giao thừa
Khoảng thời gian chuyển giao ..
Khoảnh khắc lắng đọng  nhẹ nhàng
Dường như em nôn nao khó tả ......
Bao mùa xuân qua em và anh
Hai chúng ta hẹn nhau đón giao thừa
Cùng khai bút đầu mùa xuân
Khi là thơ lục bát hay đoản văn ngắn

Chẳng biết anh còn nhớ chăng?
Nếu anh đã vô tình lãng quên mất
Em  không phiền trách anh đâu
 Ta không duyên chẳng nợ nên xa nhau
Em mong sao giây phút nào  nhớ  em
Chút hạnh phúc nhỏ nhoi thôi anh nhé!
Giao thừa năm nay em ngồi nơi đây
Chỉ mình em lặng lẽ .....nhớ về anh ..

                                  Camly

Tình Em Ngọn Nến

















Bao đêm em thầm ước ao
Bên ánh nến vẫn luôn khát khao
Tình yêu chắp cánh xa bay
Dẫu biết rằng lòng người  đổi thay
Tình em trọn vẹn trao anh
Ánh nến lấp lánh trong mắt
Anh là ngọn nến xanh
Em ngọn nến hồng như môi em xinh
Thắp sáng ngọn lửa  tim anh
Sưởi ấm tình yêu chúng ta !
  Thời gian có hờ hững trôi nhanh..
Tình ta..
Lâu dài..
Chẳng phai!!


Camly

2012

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Làm Rể Xứ Huế





Ngày tôi quen O Điểm thì O mới học xong lớp 10.
Năm đó, chị của O có cái quán cà phê Thượng Uyển trong Đà Nẵng nên mùa hè O vào giúp chị.

 Tôi xăng xái xin làm gia sư. Mới được hơn một tháng thì O Điểm "bỏ bùa" cho tôi. Hết hè, O trở lại Huế đi học thì rời trường Thành Nội mà qua Đồng Khánh.
 Tôi xin biệt phái đi theo trực thăng tản thương đêm trong Mang Cá (Tổng Y Viện Nguyễn Tri Phương) và ban ngày đi học nơi trường Luật, học cho vui và để lấy le thôi, chứ tôi học dốt lắm.
Những lần rủ O trốn học đi chơi ở đồi Thiên An, hay lên các lăng tẩm là những ngày vui không bao giờ chúng tôi quên được. 
Hai đứa cũng tránh không lên chùa Thiên Mụ vì nghe nói cặp nào đưa nhau lên nơi linh thiêng đó thì thế nào cuộc tình cũng tan vỡ.
Chuyện tình Romeo và Juliet (hay Rô bi nê và Toa lét) của O và tôi lắm nỗi thăng trầm là vì O bên Lương, còn tôi bên Đạo.Ông Nhạc gia tôi hồi đó không chịu gả O là vì tôi khác đạo, con nhà làm ruộng, lại nữa ông có thành kiến với người Bắc, chắc ông nghe người ta nói nhiều về con trai Bắc Kỳ thường đểu.
Nhưng tôi biết lý do chính là vì ông không muốn con gái út lấy chồng phương xa, tuốt mãi trong Rạch Giá.

"Có con mà gả chồng gần,

 có bát canh cần nó cũng bưng cho!
Có con mà gả chồng xa,

 trước là mất họ sau là mất con!"

Nhưng Cậu ruột của O lại là một Linh Mục đang ở Nha Trang nên hết lòng hỗ trợ cho chúng tôi lấy nhau. Nhớ hồi sau 1975, chúng tôi nghèo quá, đám cưới chỉ có một con heo 50 ký do anh cả tôi cho; hai cái nhẫn vàng mỏng dính như sợi chỉ; chiếc áo cưới chỉ là áo trắng như hồi còn đi học.Năm 1981, chúng tôi đến Mỹ, trong tay có 5 đồng bạc. Vất vả cũng lắm, mà hạnh phúc cũng nhiều.

 Gia đình Mẹ và các anh chị em tôi, nhất là mấy bà chị dâu thường nói:"Chú lấy được O Điểm là phúc đức ông bà để lại."Quả thực có thế, O đã sanh cho tôi 3 đứa con trai cao ráo và một đứa con gái út rất đẹp.
 Chắc đẹp cỡ như tôi. (Just kidding - đùa thôi.)Cách dậy dỗ con cái, tôi phú hết cho O nên đứa nào cũng ngoan ngoãn. Nay, hai đứa đã ra trường còn hai đứa cũng sắp xong.Đúng là phúc đức ông bà, chứ tánh tôi cục cằn, thô lỗ, dạy con chắc không xong, mà còn bị "ép phe" (effet) ngược là đằng khác.
      Qua xứ người, tôi còn có thời giờ cắp sách đến trường để học thêm chút đỉnh, chứ O rời sở làm là lao đầu vào bếp, lau nhà, giặt quần áo, trồng rau thơm, rau cải sau vườn.

Bây giờ, tôi ra kinh doanh ở ngoài, đâu có bảo hiểm sức khỏe gì! May có hãng của O nên cả gia đình không phải lo tới vấn đề chi phí cho khám bịnh, nhà thương gì hết. Thật là quá mừng.Không nhắc đến tài nấu ăn, nhất là những món Huế của O quả là một điều thiếu sót. 
Bạn bè xa gần thường nhắc nhớ đến Bún Bò O Điểm, mà hầu hết tháng nào cũng có nấu một lần trong cái nồi lớn chừng 30 lít. Người trong nhà, con cháu và bạn tới chơi, thường ăn hai tô, một tô lúc mới tới và một tô trước khi ra về.
Những món như bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ít... tôi không thích mấy, chỉ khoái những món chè của O mà thôi. Chắc ai cũng biết rằng Chợ Dinh nơi O ở có cả làng bán chè rất nổi tiếng.

 Qua đến Mỹ, món chè của O đã được "thăng hoa" lên hàng thượng thừa vì vật phẩm dùng để nấu có thêm nhiều thứ như rong biển, nấm trắng, táo tàu nhỏ, hoài sơn, ý dĩ v v.. nên chè đã ngon, lại càng thêm ngon.
Thành phố chúng tôi đang định cư là Little SG ở Nam Cali, có thể gọi là Thủ Phủ của người VN ở Hải Ngoại, cách bờ biển chừng 10 phút lái xe.
 Dọc bờ biển, có những chiếc cầu bắt nhoài ra biển cả gần nửa cây số cho dân chúng đứng câu; nơi đây có rất nhiều cá nục chuối và cá trích. Những mùa khác thì cá ít hơn, nhưng mùa hè đến thì cá nhiều vô số, một dây câu cột mấy lưỡi là dính bằng ấy cá, có khi cả chục con nhưng vì cầu khá cao, mà cá giãy dữ quá nên rơi rớt hết phân nửa.

Người Nam và Bắc khi kho cá, nhứt là cá biển thì thường kho khô và bỏ nhiều tiêu, khi họ thấy mình kho cá nục lõng bõng nước thì sợ nó sẽ tanh. Nhưng khi O Điểm kho cá nục tươi rói mới đi câu về với mấy trái ớt xanh bẻ đôi, tỏi đập dập, vắt chút chanh, ăn với bún thì ôi thôi ai nấy nuốt vội, nuốt vàng, có khi nuốt luôn cả lưỡi.
Tôi thường ăn kèm với món này một ít rau thơm và giá; nhưng O nói ăn như vậy không thưởng thức hết mùi vị của con cá nục.
Đó, nhờ được O "chăm bẵm" như vậy nên tôi không còn ốm nhách, cao kều như cây tre miễu nữa, mà nay trông rất "sổ sữa", cắt tóc cạo râu, cho diện đồ mới, chân mang dép, mang giầy vô coi cũng ra dáng con người lắm, chứ không giống con đười ươi! Nếu có ai hỏi tôi yêu O ở điểm nào thì tôi tình thực trả lời rằng đó là nụ cười vui với hàm răng trắng bóng như bắp cồn Hến và nhất là... bàn chân nhỏ nhắn, có cái gót hồng hào, người ta nói là "Vượng phu ích tử" gì gì đó.
 Bạn bè tôi thường ganh tị rằng họ đã lỡ lấy vợ miền khác, chứ không may mắn lấy được vợ Huế như tôi. Họ hỏi bí quyết nào mà có được nhà cửa êm ấm làm vậy, tôi thường trả lời rằng lấy vợ Huế, khi cô ấy cằn nhằn mình nghe không hiểu gì hết, nên có cãi lại vợ bao giờ mà thành lớn chuyện, lục đục trong nhà.Nếu ''kiếp sau'' được làm người, nhất là được làm đàn ông, thì tôi sẽ nhất quyết lấy vợ Huế nữa, cho dù mấy cô kia có là Hoa Hậu, Hoa Khôi đi nữa.... tôi cũng chẳng màng.
                                   Diệm Tần 
                            @@ Cly tks t.g nha!!
                                                                 

Dâu Việt Xứ Đài


Hơn 40.000 cô dâu Việt đang sinh sống tại Đài Loan với rất nhiều cảnh ngộ khác nhau. Một số tạm hài lòng với cuộc sống ổn định, êm đềm, nhưng cũng không ít người vẫn phải sống trong nước mắt.
Ước mơ của mẹ và con
 “Em rất mong được giữ lại quốc tịch Việt Nam, vì nếu có chuyện gì xảy ra, em vẫn có thể quay về quê hương để sinh sống và làm việc, được hưởng mọi chế độ bảo hiểm chăm sóc”, cô dâu Phan Ngọc Huyền 36 tuổi, người Vĩnh Long, tâm sự.
 Nhiều cô dâu khác cũng cho biết có một số cô dâu sau khi được cấp chứng minh thư và cư trú hợp pháp tại Đài Loan, bị bệnh, nhưng nhà chồng không quan tâm, một mình trên đất khách rất khổ sở, muốn về quê hương để được gia đình mình chăm sóc thì phải xin visa và gia hạn theo định kỳ, vừa tốn kém, sơ sẩy quên không đăng ký gia hạn thì bị phạt.
 Vì vậy không ít cô dâu Việt có cảm giác tủi hổ vì mình bị quê hương chối từ.
  Có cô dâu đã được cấp chứng minh thư Đài Loan (xin giấu tên) cho biết, do sơ suất khi mang con về Việt Nam, cô quên không đăng ký khai báo tạm trú cho con, tới khi về lại Đài Loan, phía  Việt Nam nhất định không cho xuất cảnh, cô đành phải nhờ Phòng Văn hóa và Kinh tế Đài Bắc can thiệp mới đưa được con về.
 Rất nhiều cô dâu Việt sống tại Đài Loan tới hơn 10 năm mới chịu xin cấp chứng minh thư Đài Loan, phần lớn đều cho biết không muốn từ bỏ quốc tịch Việt Nam. 
 

Rất nhiều đứa trẻ lai Việt - Đài đều ngơ ngác khi tôi nói chuyện với chúng bằng tiếng Việt, dù chỉ là những từ xã giao đơn giản nhất. Đây cũng chính là điểm chung và rõ nét nhất trong thế hệ trẻ lai Việt - Đài. Em nào giỏi lắm chỉ biết 1 - 2 câu đơn giản, như: xin chào, đói quá...
 Bé Hoàng Gia Dư, 12 tuổi, và em trai là Hoàng Vũ Sinh, 4 tuổi, cũng không biết một câu tiếng Việt, dù từng về Việt Nam 2 lần.
 Hỏi mẹ hai bé là chị H.T.M.Linh, 30 tuổi, người Đồng Tháp, đã làm dâu tại TP.Đào Viên 10 năm qua, chị cho biết do lịch học của các bé đã quá nặng, thêm cả học tiếng Anh nên chị chủ trương không dạy con tiếng Việt. “Giờ bắt các con học cả tiếng Việt thì chúng sao học nổi.
 Sau này lớn hẵng hay”, chị thẳng thắn nói. Bé Trương Gia Trân, 8 tuổi, hiện đang học lớp 2 rất tinh nghịch và lanh lẹ.
 Hai cháu cũng được cùng mẹ đại diện cho di dân mới chụp hình cùng lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu tại một điểm vận động bầu cử ở TP.Đài Bắc vào ngày 19.11 vừa qua.
 Gia Trân khoe cháu biết đếm từ 1-10 bằng tiếng Việt, đã về Việt Nam chơi 5 lần nhưng khi không có mẹ, bé đành chịu, không thể trò chuyện với ông bà ngoại hoặc các bác. “Những lúc đó, cháu toàn im lặng, chả biết làm sao.
 Mẹ quá bận, không có thời gian dạy tiếng Việt cho chúng cháu”, Gia Trân thổ lộ. Tuy nhiên, Gia Trân và em trai thường được nghe mẹ kể những câu chuyện cổ tích Việt Nam bằng tiếng Hoa. Hai con của chị Nhã Tú (người Đồng Nai, 32 tuổi) cũng không hề biết tiếng Việt, dù đứa nhỏ hiện đang học lớp 5.
  3 đứa con của chị Đặng Thị Xuân Diễm, người Đồng Tháp, đang sống tại Vùng đô thị mới Đài Bắc cũng không biết một chữ tiếng Việt.
    Các bà mẹ quá bận mưu sinh, không còn thời gian dạy con học tiếng Việt, chứ chưa nói tới việc dạy lịch sử, những phong tục tập quán, văn hóa... của người Việt.
 Mặt khác, phần lớn những người chồng Đài Loan lấy cô dâu Việt đều xuất thân từ tầng lớp lao động, thu nhập thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, nên nhiều người trong số họ còn không đủ trình độ và thời gian dạy dỗ con cái, nói gì cho con biết thêm văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ... của quê ngoại. 
                                                
Nguyễn Lệ Chi ( Taiwan)
@@ tks t/g LChi)

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

ThaiNguyen Weekly Style


Tình người ở Lubbock

Tôi ở Lubbock chỉ có mấy ngày, ngày nào cũng miệt mài trong thư viện từ sáng đến tối nên không có dịp đi chơi đây đó, không biết gì về các vẻ đẹp trong thiên nhiên hay trong kiến trúc của thành phố. Nhưng tôi cảm nhận được một vẻ đẹp rất hiếm thấy ở những nơi khác: vẻ đẹp trong quan hệ giữa người và người.
  Tìm trên internet, biết từ khách sạn Lubbock Holiday-Inn, nơi tôi ở, đến Texas Tech University khá gần nên tôi quyết định đi bộ. Buổi sáng, trời đẹp và đầy nắng ấm. Có điều, không hiểu sao, tôi lại đi nhầm đường. Nhìn đồng hồ, thấy đã hơn 15 phút, vẫn không thấy trường đại học ở đâu cả. 

Thấy một tiệm sửa xe dọc đường có người, tôi ghé vào hỏi. Người chủ tiệm, dáng dấp Á châu, sốt sắng chỉ đường: Đi thẳng, đến chiếc cầu trước mặt rồi quẹo trái, sau đó, quẹo phải. Chợt nhìn bảng tên trên bộ đồng phục lao động của anh, thấy chữ “Anh”, tôi đoán anh là người Việt, nên nói “cám ơn”. Anh ngạc nhiên hỏi: “Anh cũng là người Việt hả? Anh muốn đến chỗ nào ở đại học Texas Tech Uni?”. Tôi đáp: “Vietnam Center.” Anh nói: “Ồ, vậy thì nó nằm xa lắm. Trường Texas Tech Uni rộng vô cùng. Anh đi bộ không nổi đâu. Mất cả nửa giờ chứ không ít. Anh lên xe tôi chở đến đó cho.”
 Tôi từ chối: “Không sao. Tôi có nhiều thì giờ. Đi bộ cho khoẻ.” Anh khăng khăng mời tôi lên xe để chở đi. Anh quay sang bảo một người Mỹ đang làm việc trong garage coi tiệm, rồi kéo tôi lên xe. Trên đường đi, anh kể chuyện cuộc đời anh: lúc nhỏ sống ở Đà Nẵng, sau, vào Sài Gòn học Nông lâm; khi miền Nam sụp đổ, chịu đựng không nổi những áp bức dưới chế độ mới, anh vượt biên. Sang Mỹ, học và làm về kỹ thuật.
 Lúc công ty nơi anh làm việc đóng cửa, anh quyết định mở tiệm sửa xe để sống một cách độc lập, tự mình làm chủ công việc của mình, không phải lo lắng chuyện mất việc. Rồi anh đọc cho tôi nghe một số bài thơ anh làm. 
 Những bài thơ đau đáu về tình hình chính trị của đất nước. Đến nơi, anh chạy vòng vòng trong bãi đậu xe để đọc cho hết bài thơ anh tâm đắc.
 Có lẽ ngại tôi sốt ruột nên anh cố đọc thật nhanh. Nhanh, nhưng giọng vẫn đầy sôi nổi và tha thiết. Sau đó, anh cho tôi số điện thoại, cả số điện thoại ở tiệm lẫn số di động của anh, bảo bất cứ khi nào tôi cần đi đâu, cứ gọi anh một tiếng, anh sẽ chở đi. Thú thực, trong đời, tôi gặp được rất nhiều người tốt, nhưng hiếm khi nào gặp được ai nhiệt tình đến như vậy. Nhiệt tình với một kẻ hoàn toàn xa lạ. Mới gặp lần đầu.
 Đến Vietnam Center, tôi cũng rất ngạc nhiên về sự tiếp đón của họ. Tôi đã giao thiệp và làm việc với khá nhiều trung tâm nghiên cứu trên thế giới nhưng chưa thấy nơi nào có cách tiếp đón các học giả từ nơi khác đến một cách dễ thương như ở đây.
 Trước, từ Úc, tôi đã liên lạc qua email với anh Lê Công Khanh, phó giám đốc Center và chị Sheon Montgomery, người phụ trách thư khố. Cả hai đều sốt sắng hứa giúp.
 Trên đường bay từ Úc sang Texas, tôi nhận được email của Tiến sĩ Steve Maxner (giám đốc Center), bảo ông rất vui khi biết tôi đến Vietnam Center để nghiên cứu. Rồi cô Amy Kathleen Mondt, một nhân viên trong thư khố cũng email cho biết sẵn sàng chỉ dẫn tôi trong việc tìm kiếm các tài liệu tôi cần.
 Tôi ngạc nhiên và cảm động vô cùng: cả Steve lẫn Amy đều chủ động email cho tôi trước khi tôi liên lạc với họ.
  Đến nơi, anh Lê Công Khanh tiếp tôi. Đó là một người đàn ông đã lớn tuổi, ngót 70, hiền lành và lịch lãm. Trước, ở Việt Nam, anh là luật sư và có thời từng làm chủ tịch đoàn Thanh Niên Thiện Chí; sau, sang Mỹ, anh làm nhiều nghề để sống trước khi đến làm việc cho Vietnam Center. 

 Anh có kiến thức và kinh nghiệm rộng rãi về Việt Nam trước cũng như sau năm 1975. Nhưng điều tôi thích nhất ở anh là tính cách: khiêm tốn, thành thực, cởi mở và ăm ắp tâm huyết đối với việc bảo quản các tài liệu lịch sử về chiến tranh Việt Nam.
  Đang ngồi nói chuyện với Lê Công Khanh, Steven đến. Còn trẻ, có bằng tiến sĩ về sử học, đã từng đi Việt Nam hơn cả hai chục lần, Steven hiểu biết sâu sắc về chính trị, xã hội và văn hoá Việt Nam. Anh hỏi tôi về các dự án nghiên cứu mà tôi theo đuổi và những gì tôi cần ở Việt Nam Center. 

Tôi trình bày một số ý định của mình. Anh bảo cô thư ký ngồi bên cạnh gọi điện thoại qua bộ phận thư khố yêu cầu cử người giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm tư liệu trong những ngày tôi ở Lubbock. Sau này, Lê Công Khanh kể với tôi là Steven yêu Việt Nam vô cùng. 

Mỗi lần đi Việt Nam, anh thấy vui như về lại nhà mình. Đến độ có lần anh tâm sự không chừng kiếp trước anh là người Việt Nam.
 Ở Việt Nam, anh ăn thử mọi món, từ mắm nêm đến mắm tôm, từ thịt chuột đến thịt rắn và cả thịt chó, từ bún ốc đến sầu riêng. Cái gì anh cũng thích.Anh Lê Công Khanh dẫn tôi qua khu vực thư khố. Amy, cô nhân viên ở đó, dẫn tôi đi vòng quanh thư khố. 
Đó là mấy căn phòng rất rộng, chứa hàng triệu tài liệu, từ sách đến tạp chí, bào hàng ngày đến các tài liệu tịch thu được từ các bộ đội miền Bắc thời chiến tranh. 
Amy mở hết thùng tài liệu này đến thùng tài liệu khác cho tôi xem.
 Chưa có thì giờ đọc, chỉ liếc qua cho biết tình hình mà đã mất hết gần hai tiếng đồng hồ. Anh Lê Công Khanh bỏ hết công việc để theo tôi.
  Mấy ngày sau đó, khi tôi vào phòng đọc để đọc các tài liệu mình chọn, lâu lâu Sheon và Amy lại chạy sang hỏi thăm. Bất cứ thứ gì tôi cần, họ cũng đều giúp. Tôi cần nhìn qua bản gốc cuốn nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm ư? Họ nhấc phone lên gọi, chưa tới năm phút sau, một nhân viên cầm hộp bản thảo mang đến.

 Tôi muốn xem các thư từ, nhật ký hay các ghi chép khác tịch thu được từ bộ đội ư? Mười, mười lăm phút sau, hai nhân viên đẩy hai chiếc xe đẩy trên mỗi chiếc xe có sáu thùng tài liệu đầy nghẹt đến phòng đọc.
  Buổi sáng thứ hai ở Lubbock, rút kinh nghiệm từ lần đầu đi lạc được anh Anh chở, tôi nhờ tiếp viên khách sạn gọi giùm tắc xi để đến trường đại học. Tôi rất bất ngờ khi người nhân viên đề nghị để anh bảo tài xế khách sạn chở tôi đến. 

Trên tắc xi, tôi nói chuyện với tài xế về việc tôi đến Vietnam Center để tìm tài liệu cho một cuốn sách mới. Anh tài xế, người da đen, không biết gì về Việt Nam cũng như về chiến tranh Việt Nam nhưng tỏ vẻ rất thích thú khi nghe tôi khen Vietnam Center có một bộ tài liệu về chiến tranh Việt Nam phong phú nhất thế giới. Anh hỏi khi nào tôi làm việc xong, tôi bảo 6 giờ chiều.
 Anh dặn: đúng 6 giờ chiều, đứng trước cửa Center, anh sẽ đến đón. 
 Tôi lại từ chối. Anh không đáp; chỉ nói như ra lệnh: Đúng 6 giờ chiều ở đây nhé! Rồi phóng xe đi.
  Những ngày sau đó, trừ những lần có bạn bè đến đón, còn lại, tất cả tôi đều đến trường đại học bằng xe của khách sạn.

  Cứ thấy tôi xuống, đi ngang qua phòng tiếp tân, nhân viên khách sạn lại gọi tài xế chở tôi đi. Lần nào cũng thế.
  Tôi đi nhiều, ở khách sạn nhiều, nhưng trừ một số nơi, với mục đích quảng cáo và tiếp thị, người ta bao cả chi phí đón và đưa khách ở phi trường hoặc một số địa điểm nào đó, chưa bao giờ thấy một khách sạn nào tử tế đến như vậy.

Không thể nói người ở vùng này tốt hơn ở vùng khác. Nhưng dường như ở các thành phố nhỏ, quan hệ giữa người và người còn gần gũi và ấm áp hơn ở những thành phố quá lớn và quá rộng. Nhớ, lâu rồi, trước năm 1975, ở Sài Gòn, Võ Phiến đã có một bài tuỳ bút rất hay, nhan đề “Cái rét đô thị”: Đô thị càng lớn và càng đông lại càng lạnh.
  Mấy ngày sau cùng ở Lubbock, trời gió nhiều và trở lạnh, nhất là buổi tối. Mặc áo ấm đến mấy, gió cũng chui vào người, qua ống tay áo và ống quần. Nhưng nhớ Lubbock, điều tôi nhớ đầu tiên vẫn là về cái ấm của tình người.
  Nhà thơ Văn Cầm Hải, hiện đang học PhD tại trường Texas Tech Uni, trong buổi gặp gỡ tình cờ vào ngày cuối cùng của tôi ở Lubbock, cũng đồng ý như vậy. Anh cho biết có hai lý do chính khiến anh quyết định ở lại Lubbock: kho tư liệu ở Vietnam Center và quan hệ giữa người và người ở cái thành phố nhỏ bé và heo hút này.


                             Nguyễn Hưng Quốcblg
                                                                                                                              @@ tks t/g NHQ !!