Trang

Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Bí Quyết Sống Lâu



GS Tề Quốc Lực là một người Mỹ gốc Hoa. Ông đã từng làm việc cho Tổ chức y tế thế giới (WHO) nhiều năm.
 Mới đây ông được Bộ y tế Trung Quốc mời về Bắc Kinh nói về sức khỏe.
Bài nói của ông được công chúng hoan nghênh và đã được đãng tải trên nhiều tờ báo của Trung Quốc.
Hiện nay tuyệt đại đa số là chết vì bệnh, rất ít người bị chết vì già. Lẽ ra phải tuyệt đại đa số chết vì già, còn thiểu số chết vì bệnh.

- Hiện tượng cực kỳ bất bình thường này đòi hỏi chúng ta phải mau chóng sửa chữa.
Gần đây Liên hiệp quốc biểu dương nước Nhật Bản vì tuổi thọ của họ đạt quán quân thế giới.

 Tuổi thọ trung bình ở nữ giới của họ là 87.6 ; còn ở Trung Quốc chúng ta thập kỷ 50 là 35 tuổi, thập kỷ 60 là 57 tuổi, hiện nay là 67.88 tuổi; kém Nhật Bản đúng 20 tuổi.-Kinh nghiệm của Nhật Bản là lấy xã khu làm đơn vị, mỗi tháng giảng bài một lần về sức khỏe, ai không đến nghe thì phải học bù.
 Chúng ta không có chế độ đó, ai muốn nghe thì nghe, không nghe thì thôi.
Sau khi về nước, tôi có hỏi nhiều người rằng nên sống bao lâu ? Có người bảo tôi 50 - 60 tuổi là tạm được rồi, điều này chứng tỏ tiêu chuẩn của chúng ta quá thấp.
Đại bộ phận họ không biết gì đến giữ gìn sức khoẻ, sống được sao hay vậy, vấn đề rất nghiêm trọng. Tôi đã công tác ở bệnh viện 40 năm, tuyệt đại bộ phận người chết bệnh là rất đau khổ.

 Tôi đến đây mục đích rõ ràng, tôi được sự uỷ thác của khoa học, tuân theo chì thị của bộ y tế, mong rằng mọi người đều coi trọng công tác giữ gìn sức khoẻ.
Thật ra trên thế giới, người ta họp ở Vic-to-ri-a có ra một tuyên ngôn, tuyên ngôn này có 3 cái mốc. Mốc thứ nhất gọi là ăn uống cân bằng, thứ hai là vận động có o-xy, thứ ba gọi là trạng thái tâm lý. 

1. ĂN UỐNG CÂN BẰNG
Có lẻ có người từ lâu nghĩ rằng giữ gìn sức khoẻ thì có gì mà phải nghe, lại chẳng qua là ngủ sớm dậy sớm là khoẻ chứ gì. Tôi xin thưa với bạn, ở thời nhà Đường thì có thể nói vậy, chứ ngày nay nói vậy thì cực kỳ thiếu hiểu biết, có nhiều điều đã thay đổi. 

Nói ăn uống cân bằng, có hai chuyện là ăn và uống.
Trước hết nói về uống.
Khi ở Đại Học Bắc Kinh, tôi hỏi sinh viên: Đồ uống nào tốt nhất? Sinh viên đồng thanh trả lời: Cocacola , Mỹ không thừa nhận, quốc tế cũng không thừa nhận, nó chì có thể giải khát, chứ không có bất cứ tác dụng nào cho giữ gìn sức khoẻ. Sản phẩm bảo vệ sức khoẻ là gì, mọi người nên biết, nó phải có khả năng chữa bệnh. Cho đến bây giờ, tuyệt đại bộ phận người Trung Quốc chúng ta còn chưa biết thế nào là sản phẩm bảo vệ sức khoẻ.

 Ở các hội nghị quốc tế người ta đã định nghĩa ra 6 loại đồ uống bảo vệ cho sức khoẻ: trà xanh, rượu vang đỏ, sữa đậu nành, sữa chua (người ta không nói đến sữa bò nói chung, bạn nên chú ý), canh xương, canh nấm.
- Vì sao nói canh nấm ? 

Vì canh nấm có thể nâng cao công năng miễn dịch.
 Một văn phòng luôn có người bị cảm, có người không ốm bao giờ, vì sao vậy? Vì công năng miễn dịch khác nhau. Uống canh nấm có thể nâng cao sức miễn dịch, cho nên đó là sản phẩm giữ gìn sức khoẻ.
- Vì sao nhắc đến canh xương?
Trong canh xương có chất uyển giao (một chất keo), uyển giao kéo dài tuổi thọ, cho nên hiện nay trên thế giới các nước đều có phố canh xương nhưng Trung Quốc chưa có.
Chúng tôi đã điều tra, gần đây ở các thành phố Tô Châu, Nam Kinh có rồi, Bắc Kinh vẫn chưa có. Cho nên dừng coi thường canh xương, nó có thể kéo dài tuổi thọ vì có uyển giao.- Vì sao nhắc sữa chua? 


Vì sữa chua cân bằng vi khuẩn. Nói cân bằng vi khuẩn được duy trì có nghĩa là vi khuẩn có ích thì sinh trưởng, vi khuẩn có hại thì tiêu diệt, cho nên ăn sữa chua thì có thể ít mắc bệnh. Ở Châu Âu, sữa chua rất phổ biến, nhiều cô gái chúng ta thích ăn sữa chua, nhưng họ không hiểu vì sao.

 Chúng tôi rất lấy làm lạ, lượng tiêu thụ sữa chua ở Trung Quốc rất thấp, còn lượng tiêu dùng sữa bò thì rất lớn. Bản thân sữa bò, chúng tôi không phủ nhận tác dụng của nó nhưng nó kém xa sữa chua. - Vì sao uống trà xanh? Ngày nay rất nhiều người biết uống trà, nhưng thanh niên ít uống. Vì sao trà xanh có tác dụng bảo vệ sức khoẻ? 
Nguyên nhân trong trà xanh có chứa chất trà dà phân, mà trà dà phân có thể chống ung thư. Nhật Bản làm tổng điều tra rất tốt. 
Sau tổng điều tra, người trên 40 tuổi chẳng ai không có tế bào ung thư trong cơ thể. Vì sao có người mắc ung thư, có người không? Điều này có liên hệ đến việc uống trà xanh.
Nếu anh uống mỗi ngày 4 chén trà xanh, thì tế bào ung thư không bị chia cắt, mặc dù có chia cắt cũng muộn lại 9 năm trở lên.

 Cho nên ở Nhật Bản, học sinh tiểu học hằng ngày đi học đều uống một chén trà xanh.
Thứ hai xin chú ý, trong trà xanh có chứa fluor, nó chẳng những có thể làm bền răng mà còn chữa được sâu răng, diệt vi khuẩn.


Sau bữa ăn 3 phút, đốm khuẩn răng đã xuất hiện. Hiện nay rất nhiều người chúng ta không có răng tốt, chẳng những không súc miệng bằng nước trà, mà nước trắng cũng không. Vì thế có người 30 tuổi đã bắt đầu rụng răng, 50 tuổi thì rụng hết.Thứ ba bản thân trà xanh chứa chất trà cam ninh, chất này nâng cao độ bền huyết quản, khiến huyết quản khó vỡ. Rất nhiều người bị mạch máu não bất ngờ đến Bắc Kinh chữa, trong bệnh viện cứ 4 người chết là có một người bị xuất huyết não. 

Xuất huyết não thì chưa có cách chữa, kỵ nhất là tức giận, hễ tức giận đập bàn trợn mắt mạch máu não đứt ngay. 
Các vị ạ! đến tuổi các vị nên uống sớm đi, đến lúc các vị có đập bàn trợn mắt vài cái thì cũng không lo.
- Trong các đồ uống, đứng thứ hai là vang đỏ: Vốn là trên vỏ quả nho đỏ có một thứ gọi là nghịch chuyển thuần (cồn chuyển ngược).

 Chất này có tác dụng chống suy lão, còn là thuốc chống ô-xy hoá, người hay uống vang đỏ thì ít mắc bệnh tim. -Thứ hai nó có thể giúp ta phòng ngừa tim đột nhiên ngừng đập, chúng ta gọi là ngừng đột ngột.Trong trường hợp nào tim có thể ngừng đập? Một là vốn có bệnh tim, hai là tăng huyết áp, ba là mỡ máu cao. Mấy hôm trước tôi đến Trường Đại Học Sư Phạm hội chuẩn, một vị tiến sĩ mới 35 tuổi, buổi sáng còn chạy nhảy tưng tưng chiều đã chết rối. Vì sao? Mỡ máu quá cao.
Bây giờ tôi xin báo cho các vị kết quả tổng điều tra của thành phố Bắc Kinh, cán bộ tại chức cứ hai người thì có một người mỡ trong máu cao, tỷ lệ này là một phần hai. Mỡ máu cao nguy hiểm ở chỗ nào?
Tim có thể đột nhiên ngừng đập. Có một chàng trai 20 tuổi, máu của cậu ta lấy ra có dạng bùn, hết sức nguy hiểm. Chúng tôi hỏi cậu ta, cậu ta bảo ăn tốt quá. Không phải cậu ta ăn tốt quá mà là ăn quá bất hợp lý. -Chúng tôi có một ca bệnh: một người mua một chiếc bánh ga-tô lớn ở ngoài thành phố, vừa cứng, vừa dẻo, vừa nóng chạy về nhà, vào đến cửa liền bảo bà cụ ăn ngay kẻo nguội, bà cụ vừa ăn được mấy miếng thì tắc thở. Anh ta cõng bà cụ chạy ngay đến bệnh viện, đến nơi chúng tôi hỏi có bệnh gì, anh ta kể lại đầu đuôi. 

Thế chẳng phải chết vì thiếu hiểu biết đó sao?
Không cứu được. Rượu vang đỏ còn có một tác dụng nữa là hạ huyết áp, hạ mỡ máu. Vang đỏ có mấy tác dụng lớn như thế nên ở nước ngoài người ta bán rất chạy.


Tôi không quảng cáo tiếp thị cho rượu vang đỏ đâu, tôi chì truyền đạt tinh thần của hội nghị quốc tế. Nhiều người sẽ hỏi: chẳng phai cấm rượu sao?

 Tổ chức y tế thế giới nói rằng cai thuốc lá, hạn chế rượu, chứ có nói cấm rượu đâu, hơn nữa còn nói rơ hạn lượng rượu : rượu vang nho mỗi ngày không quá 50 - 100cc, rượu trắng mỗi ngày không quá 5 - 10cc, bia mỗi ngày không qúa 300cc. Nếu anh vượt qua khối lượng đó thì sai lầm, không quá lượng đó thì tốt. Có chị nữa sẽ hỏi:
Tôi không biết uống rượu thì làm thế nào? Chị không biết uống rượu, há lại không biết ăn nho sao? Ăn nho há lại không biết ăn cả vỏ sao ?

- Nhưng nho trắng không có nghịch chuyển thuần, bạn ăn cũng vô ích.Bây giờ ở Châu Âu đã có bánh ngọt bằng nho rồi. Tôi đã thử rồi, nho đỏ rửa sạch đi mà ăn, nuốt cả vỏ rất thích không sao cả.

- Cho nên người có tiền uống vang đỏ, người không có tiền ăn nho đỏ không bỏ vỏ đều giữ được sức khoẻ như nhau. Còn có người bắt bẻ tôi. 
Tôi không có tiền thì làm thế nào? Tôi xin nói với các bạn, ở hội nghị quốc tế người ta đã điều tra rồi, các khu vực trường thọ trên thế giới đều ở vùng ít tiền, thứ nhất là ở Ai-rơ-han thuộc Pakistan, thứ hai là A-zec-bai-zan của Liên Xô (cũ) và Kha-la-han ở Ê-quado đều là những vùng nghèo.
 Như vậy thì có lạ không?
 Kẻ có tiền ngày ngày nhậu nhẹt tiệc lớn nhỏ, gà vịt thịt cá thì đều bụng phệ, bằng đầu bằng đuôi. Tôi đã điều tra rồi, những người như vậy rất ít sống được quá 65 tuổi.
- Vấn đề tập thể dục buổi sáng: tôi thấy nhiều ông bà già 5 - 6 giờ sáng đã xách bảo kiếm đi ra ngoài.

 Đến tối không thấy mấy ông bà già nữa, họ đều ở nhà xem tivi. -Đó là vì họ không biết rằng tập thể dục buổi sáng rất nguy hiểm. Sáng sớm dậy, quy luật của đồng hồ sinh học trong con người là nhiệt độ cơ thể cao, huyết áp tăng, hơn nữa nội tiết tố thượng thận cao gấp 4 lần buổi tối, nêu vận động mạnh sẽ rất dễ xay chuyện dễ làm tim ngừng đập.
 Tôi không phản đối đi bộ, tập thể dục, đi Thái cực quyền, luyện khí công buổi sáng sớm... điều đó không có gì sai cả. 
Nhưng nếu người già và người trung niên sáng sớm vận động mạnh, chạy đường dài, leo núi, thì chì có trăm điều hại, không một điều lợi.
Bây giờ đến vấn đề thứ hai là ăn
Mọi người nên biết kim tự tháp ở Châu Á là tốt nhất.
Kim tự tháp là gì ?
Loài cốc, loài đậu, loài rau. Ngủ cốc, đậu và rau là rất tốt. Ở hội nghi. San Francisco, nhiều bác sĩ nước ngoài đã nêu rằng: người Trung Quốc bây giờ không ăn ngũ cốc, đậu và rau nữa rồi, họ bắt đầu ăn bánh Hambuger  của chúng ta rồi. Tôi về nước, một lần đến Mac Donald, bị chen bật ra, anh nói có ghê không, đó là việc hiếm thấy ở nước ngoài.
Thanh niên ta mừng sinh nhật, mở tiệc, đều là Mac Donald. Tôi rất phục Mac Donald, một năm người ta lấy của chúng ta hơn 2 tỷ, người ta thật biết làm ăn!
Theo tôi nắm được, sở dĩ người ta gọi nó là thực phẩm rác chính vì nó là một loại thực phẩm kích thích lệch, hậu quả là người bằng đầu bằng đuôi, cứ như một bó hành lư. 

Người ta không ăn vì ăn xong lại phải đi giảm béo. Chúng mình không biết, ngày nào cũng McDonald, đặc biệt là thế hệ thứ hai, quả là đến mức không có McDonald không sống nổi. Chúng ta nên biết đó là thức ăn kích thích lệch, không phù hợp với ẩm thực của chúng ta. & ở các hội nghị quốc tế người ta xưa nay không nói đến gạo, bột mì trắng, cũng không nói đến MacDonald

Tôi có thằng bạn thân

                                                                                 
                                             
Tôi có thằng bạn thân tên Tuấn, người Canada gốc Việt. Tuấn đang ở Ottawa, thủ đô của Canada, một đất nước đúng như lời anh Nguyễn Ngọc Ngạn nói là đất lạnh nhưng tình nồng.Đối với tôi, bạn thân nghĩa là chúng tôi luôn chia sẻ với nhau những khó khăn, vui buồn trong cuộc sống.
Trong công việc hằng ngày, về chuyện công lẫn chuyện tư. Vợ chồng cãi lộn hay chia tay nhau – vì lý do chính đáng hay không – chúng tôi cũng bảo cho nhau nghe.
Những lúc tôi thiếu tiền, Tuấn sẵn sàng cho mượn mà không cần biết là lúc nào tôi mới có thể trả được.
Tôi quý bạn tôi là vì thế.

 Vì Tuấn chỉ biết cho mà chưa bao giờ nhận được bất cứ điều gì từ tôi.
 Nói ra thì nghe thấy hơi quá đáng nhưng những thằng bạn nào chơi càng thân với tôi thì hình như lại càng dễ bị tôi lợi dụng.
Phủ phàng là thế!
Còn nhớ lúc tôi mới quen Tuấn cách đây cũng độ 9, 10 năm gì đó. Không những tôi vào nhà Tuấn xin ở ké mỗi khi phải đến Ottawa họp hành mà ngay cả việc đưa đón tôi cũng phải nhờ. 

Cách đây vài năm, Tuấn là người đầu tiên đứng ra tổ chức văn nghệ ở Ottawa để gây quỹ giúp cho văn phòng tôi ở Phi Luật Tân.
Sau này khi cần người bảo trợ cho một số người Việt tỵ nạn ở Phi sang Canada tôi cũng nhờ đến Tuấn.

 Hôm gặp mặt một số đồng bào được may mắn cho sang Ottawa định cư trong những năm vừa qua, Tuấn là người cho chúng tôi mượn nhà hàng của gia đình để mọi người có dịp gặp nhau hàn huyên tâm sự luôn tiện ăn đồ ăn nhà hàng nấu đãi…miễn phí.
Thế mới gọi là lợi dụng.
Vậy mà nó vẫn tiếp tục chịu đựng để mãi đến bây giờ tôi với nó vẫn là 2 thằng bạn thân, có phước không cùng hưởng nhưng có nạn thì luôn sẵn lòng chia!
Như hôm tuần trước tôi gọi điện thoại trên Skype từ Manila để báo cho nó biết là tôi đã xin nghỉ việc ở Washington DC để trở về Phi Luật Tân mở lại văn phòng cho VOICE.

 Còn quá nhiều công việc tỵ nạn ở Campuchia, ở Thái Lan và ngay cả ở Manila này mà tôi vẫn muốn tiếp tục tranh đấu. Xây dựng một xã hội dân sự ở Việt Nam, giúp đỡ những người bạn của tôi hiện đang bị giam cầm, áp bức ở Việt Nam cũng là điều mà tôi muốn thực hiện trong những năm tháng sắp tới.
Nhưng hình như đó lại không phải là điều mà Tuấn bận tâm nhất. Vì câu hỏi đầu tiên của Tuấn dành cho tôi là:
‘Mày làm như vậy thì lấy cái gì mà sống?’
Thiệt đúng là cái thằng quá thành thật và thực tế, tôi nghĩ trong đầu. Dĩ nhiên là tao sẽ sống thôi. Trời đã sanh voi thì sẽ sanh cỏ mà. 

Tôi liền phân bua bảo cho Tuấn rằng:Mày đừng lo. Ăn ở thì tao sẽ ở chung với mấy người tỵ nạn ngay trong văn phòng như ngày xưa. Vì vậy sẽ khỏi phải tốn tiền nhà, tiền ăn. 
Còn tiền đi làm MC show văn nghệ ở bên Mỹ, một hai tháng được một lần thì để dành nuôi thằng Trịnh Phi. 
Thế là đủ rồi. Đâu còn cần gì nữa, có phải không?’
Không nhìn thấy Tuấn ở bên đầu dây bên kia nhưng tôi có thể hình dung ra được cảnh nó vừa lắc đầu chán ngẩm vừa đáp trả lời tôi:
‘Mày thiệt đúng là thằng…hết chỗ nói. Mày đã nói như vậy thì tao đâu còn cái gì để nói nữa’.
(Cả hai cùng im lặng)
Nhưng có lâu đâu. Chỉ vài giây sau là nó đã hỏi tiếp trên đầu dây bên kia:
‘Như vậy thì mày cần cái gì bây giờ nói cho tao biết’
Trời. Cái gì mà tao không cần. Tôi lại chợt nghĩ trong đầu. Tao cần thiện nguyện viên qua giúp tao một tay để làm hồ sơ kháng cáo. Tao cần laptop, máy in, máy tính, tiền mua bàn ghế, giường tủ cho văn phòng. 

Tao cần phải gây quỹ để có tiền trả chi phí hàng tháng như trước đây vậy. Tao đã xin được tiền nhà nhưng những thứ khác thì chưa.
Nhưng suy đi nghĩ lại thấy mình đã lợi dụng thằng bạn mình quá nhiều nên tôi hơi có ý chần chờ, chưa dám nói thẳng ra.
Hình như Tuấn cảm nhận được điều đó nên hỏi ngay:
Mày cần tiền phải không?
Mmm…ừ.

Mày cần bao nhiêu?
Thì có bao nhiêu xài bấy nhiêu. Như hồi đó vậy mà.

Rồi. Tao sẽ giúp mày. Nhưng với một điều kiện.
Điều kiện gì?

Mày phải viết cho tao một lá thơ gửi qua cho tao ngay, nói rõ cái gì mày đang cần để tao đi nói chuyện với gia đình, đám bạn của tao. Tụi nó sẽ giúp mày.
OK.Tuần sau được không?
OK.
Rồi. Vậy nha. Tao phải đi làm đây. Bye. Mình nói chuyện sau.
OK.
Và thế là chấm dứt buổi trò chuyện ngắn ngủi chưa đến 15 phút giữa tôi và thằng bạn thân tên Tuấn người Canada, gốc Việt. Với vỏn vẹn 3 chữ ‘OK’ đến từ tôi. Mặc dù từ nhỏ tôi luôn được cho là thằng nói nhiều, nói lớn, cái gì cũng nói được.
Nhưng không hiểu sao những lúc như thế này tôi lại chẳng phải biết nói thế nào cho hợp lẽ.
Vì nếu nói không cần thì rõ là tôi không thành thật.
Còn nếu nói cần thì tôi lại thấy sao ngài ngại bởi đấy là chuyện của mình chứ đâu phải là chuyện của người ta.
Nhưng có lẽ như lời Tuấn từng chia sẻ với tôi những lúc tôi gặp khó khăn: ‘Tao là bạn của mày. Chứ không phải là người ta. Vì vậy mày cần cái gì phải nói cho tao biết. Nếu tao giúp được tao sẽ giúp.

 Còn không thì tao cũng sẽ báo cho mày biết. Không có gì phải e ngại. Có vậy thì mình mới là bạn lâu dài với nhau được. OK!’.
Ừ. OK.
Lại chỉ có một chữ OK.
Mày phải viết cho tao một lá thơ gửi qua cho tao ngay, nói rõ cái gì mày đang cần để tao đi nói chuyện với gia đình, đám bạn của tao. Tụi nó sẽ giúp mày.
OK.
Tuần sau được không?
OK.
Rồi. Vậy nha. Tao phải đi làm đây. 

Bye. Mình nói chuyện sau.
OK.
Và thế là chấm dứt buổi trò chuyện ngắn ngủi chưa đến 15 phút giữa tôi và thằng bạn thân tên Tuấn người Canada, gốc Việt. Với vỏn vẹn 3 chữ ‘OK’ đến từ tôi.

 Mặc dù từ nhỏ tôi luôn được cho là thằng nói nhiều, nói lớn, cái gì cũng nói được.
Nhưng không hiểu sao những lúc như thế này tôi lại chẳng phải biết nói thế nào cho hợp lẽ.
Vì nếu nói không cần thì rõ là tôi không thành thật.
Còn nếu nói cần thì tôi lại thấy sao ngài ngại bởi đấy là chuyện của mình chứ đâu phải là chuyện của người ta.
Nhưng có lẽ như lời Tuấn từng chia sẻ với tôi những lúc tôi gặp khó khăn:
‘Tao là bạn của mày. Chứ không phải là người ta. Vì vậy mày cần cái gì phải nói cho tao biết. Nếu tao giúp được tao sẽ giúp. Còn không thì tao cũng sẽ báo cho mày biết. Không có gì phải e ngại. Có vậy thì mình mới là bạn lâu dài với nhau được. OK!’.
Ừ. OK.
Lại chỉ có một chữ OK.

Quả thật tôi là một người may mắn. Vì hiện tại tôi đang làm được việc mà tôi hằng say đắm. Tôi lại có đủ sức khỏe và sự hiểu biết để tiếp tục thực hiện điều mình mơ ước.
Nhưng trên hết và quan trọng hơn hết là tôi luôn nhận được sự hết lòng, hết tâm giúp đỡ từ những người thân trong gia đình, từ những thằng bạn thân, từ Úc sang đến Mỹ. 

Và trong tuần này là từ ngay thủ đô Ottawa. Từ một thằng bạn thân tên Tuấn.


Trịnh Hội 
                   ******************************
@  tks anh Trịnh Hội ,thật vậy trong cuộc đời chúng ta tìm được ngưởi bạn thân hiểu và chia sẻ mọi niềm vui ,nỗi buồn ,thành công lẫn thất bại , và đôi khi là một tri âm ,tri kỷ hơi hiếm thấy ,
Anh  thật may mắn có bạn thân như anh Tuấn ...
tks những bài viết thú vị và Cly cũng như bao netter khác học hỏi thêm được bao điều giá trị trong cuộc sống " cho & nhận " lẫn lý tưởng và hoài bão vươn tới cái đẹp trong cuộc sống .



The Holiday and the Sounds of Water



The conditions of winter certainly determine the operations of fountains, but when the Crown Center Square Fountain is able to operate surrounded by holiday lighting, it's spectacular.
 This fountain has over 40 water jets shooting out water to over 50 feet in the air. Over 2,200 gallons of water is pumped per minute from an underground reservoir of over 35,000 gallons of water.
In the spring and summertime, if you happen to be outside near 5:00 p.m., you can witness a water show that is synchronized to music which are recordings of the Kansas City Symphony. Every hour and on the hour until 9:00 p.m. this musical event is displayed and on weekends, they occur daily. This is probably the only time when people are not allowed to play in the fountain which has been serving as a cooling off spot for years. Children especially love it!

note : i also agree, it's so exciting  !

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Câu chuyện cà phê sáng,


Câu chuyện cà phê sáng, hãy dành 3 phút để đọc nó cho một ngày đầy yêu thương, bạn nhé!….
Ngày đó, khi vừa đậu đại học, nó nài nỉ ba mẹ mua cho nó một cái điện thoại. 
Vậy là ngày nhập học vào ngôi trường mới trên thành phố lớn, với biết bao lo toan từ nơi ăn, chốn ở, ba mẹ nó cũng cố sức chạy vạy ở quê để gửi tiền lên cho nó mua điện thoại mà theo nó là để tiện việc liên lạc.
Năm thứ hai đại học, nhìn thấy bạn bè xung quanh toàn là điện thoại màn hình cảm ứng, nghe nhạc, chụp hình, xem phim…không như cái điện thoại rẻ tiền xấu xí của nó, chỉ mỗi chức năng nghe gọi, nhắn tin. 
Nó gọi điện về nhà xin ba mẹ mua điện thoại mới với lý do phải học nghe Anh văn.
Đầu dây bên kia, mẹ nó im lặng hồi lâu không nói gì…
Hai hôm sau, mẹ gửi tiền lên cho nó…kèm theo một mảnh giấy “Cho con gái yên tâm học tập, cái gì ba mẹ cũng sẽ cố lo…”.
Nó không chú ý.
Tối đó, nó nhờ mấy đứa bạn tư vấn và mua chiếc điện thoại mới đắt tiền mà bạn nó nói là sành điệu nhất hiện giờ.
Hè năm đó, nó mang về cho em gái chiếc điện thoại cũ.
Em gái nó mừng lắm, say sưa nghe nó hướng dẫn cách dùng, em còn may một cái túi màu hồng thật xinh bằng vải vụn cho cái điện thoại cũ mà hằng ngày nó vẫn vứt hết góc này đến góc khác trong phòng không thương tiếc.ừ ngày có điện thoại, em gái nó cứ nhắn tin, gọi điện cho nó suốt. Trong danh bạ điện thoại của em nó cũng chỉ có số của nó mà thôi.
Cả mấy tháng không về nhà mà chuyện gì ở nhà em nó cũng kể cho nó tường tận, em còn kể chuyện học, nhiều khi chỉ là lời chúc ngủ ngon, rồi hỏi nó đi học có mệt không, có gì vui không…
Lúc mới đầu, nó cũng nhắn lại, nhưng sau đó, những dòng tin nhắn của nó cho em gái càng ngày càng cộc lốc, nhiều khi, đọc xong tin nhắn nó cũng chả thèm nhắn lại chữ nào…
Nó say sưa với việc nhắn tin với bạn bè, về những chuyện không đâu mà có khi đến tận khuya, mặc dù ngày nào bọn nó cũng gặp nhau và tám đủ chuyện ở trường.
Nó nhắn tin để xin lỗi nhóm bạn của nó vì buổi tối quên hẹn đi xem phim.
Nó nâng niu từng tin nhắn của cậu bạn học chung lớp Anh văn, nó lo lắng khi cậu ấy nhắn tin duy nhất một chữ “Mệt”.
Nó không tiếc tin nhắn khi an ủi cô bạn chỉ vì mẹ cô ấy không cho tiền mua quần áo mới…
Hộp thư đi của nó cứ một đầy thêm, nhưng tin nhắn của nó cho em gái thì càng thưa thớt dần…
Còn hộp thư đến thì vẫn đều đặn hằng ngày nhận được tin nhắn của em nó.
Hè tới, nó chỉ về quê gần một tuần rồi xin ba mẹ trở lại thành phố đi làm thêm.

Một buổi sáng chủ nhật, nó đang ngồi ăn sáng cùng đám bạn thì thấy số em gái nó gọi, nó nhìn số rồi tắt máy vì đang bận bàn luận sôi nổi, nó định về nhà sẽ gọi lại…
Về đến nhà trọ, nó nằm lăn ra ngủ vì đêm qua thức khuya…Đến trưa, nó giật mình thức dậy khi nghe tiếng gió đập vào cửa sổ, cơn mưa đổ ập xuống giữa trưa hè nóng bức không báo trước, nó nghĩ thầm 
“Mưa lớn thế này, chắc là bão”
Ngồi một lúc, nó sực nhớ chiếc điện thoại, bật lại máy nó thấy tin nhắn em gái nó từ lúc 9 giờ sáng…
“Chi oi, em len tham chi, em muon chi bat ngo, chi co vui khong?”,
“Em dang o ben xe, chi ra don em nhe…”,
“Chi oi, chi ban hoc a, em goi cho chi hoai khong duoc”,
“Chi dau roi, chi oi, mua to qua”.
“Chi, em khong biet duong di”
“Chi…”…“Chi oi”
Bao nhiêu tin nhắn của em gái nó đập vào mắt, không kịp đọc hết, nó dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà mà không đem theo cả áo mưa.
 
Ra đến bến xe, nó rảo mắt tìm quanh, tim nó thắt lại khi thấy em gái nó đang ngồi co ro cạnh gốc cây, trên tay là chiếc điện thoại, vừa đói, vừa mệt, vừa sợ, chắc em không còn đủ sức để nhắn tin nữa rồi…

-Chị ơi, em đây này!
-Sao chị không mặc áo mưa thế, ướt hết rồi kìa, lỡ bệnh thì sao, mà sao chị lại khóc thế, em không sao mà!
Mặt em tái đi vì lạnh rồi kìa..chị..chị xin lỗi!
-Em mừng quá, em sợ chị không tìm được em thôi…
Đường mưa, hai chị em vẫn ríu rít trên con đường về nhà trọ của nó, át cả tiếng mưa. Nó thấy ấm hơn khi em gái nó ngồi sau…
-Chị ơi, có lạnh không?
-Không em à!
-Vậy thì chị đưa một tay cho em nắm!
Nó tự hứa với lòng “Em gái của chị, từ giờ, chị sẽ nắm tay em chặt hơn!”.


 St

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

Đi du lịch kiểu... Úc




Đã đến cái đất  nước của loài Kanguru này, ai cũng muốn đến tham quan thành phố Sydney.
 Chẳng để làm gì cả, chỉ để tìm một tấm hình kỷ niệm thật đẹp với cái Nhà Hát Con Sò (Opera House) có hình những cánh buồm trắng căng gió nỗi bật trên vịnh Sydney xanh biếc hoặc với Cầu Cảng Sydney (Sydney Harbour Bridge) có độc nhất 1 vài 2 nhịp vắt ngang Vịnh Sydney nối 2 bờ bắc nam.
 Mà nếu  ta tìm được một vị trí thật đẹp để chụp được cả 2 công trình kiến trúc nổi tiếng này trong một tấm hình thì thật là ....tuyệt. 


Chưa đặt chân đến Sydney, nhưng bạn cũng thừa biết Nhà Hát Con Sò là nơi để mọi người đến xem các buổi trình diển ca, múa, nhạc, kịch...

Nhưng bạn chưa biết bên dưới, chung quanh Nhà Hát người ta cũng kiếm được khối tiền nhờ vào các cửa hàng ăn uống, các quầy bán hàng lưu niệm.
Còn Cầu Cảng Sydney? Chắc chỉ để xe cộ lưu thông và thu lệ phí chứ đâu còn mang lại lợi ich kinh tế gì khác… Bạn lầm rồi đó. Chỉ đến khi cầm trên tay tờ quảng cáo "Leo Cầu" (Bridge Climb), bạn mới thật sự giật mình. Họ đã kinh doanh "cái mà không ai nghĩ đến" và kinh doanh ra trò.
"Leo Cầu" là một hình thức du lịch kết hợp với thể thao cảm giác mạnh.

Khi về nước, bạn chỉ cần chìa tấm hình của mình với Nhà Hát Con Sò và với Cầu Cảng Sydney thì ngay cả người dốt môn địa lý nhất cũng phán ngay được một câu "Sướng thật, Cậu đã đến Úc rồi hả?" Và lúc đó bạn thậ t sự là người sung sướng ...


 Không mạnh sao được khi bạn phải men theo một một thanh sắt cong, hẹp để leo lên đỉnh cầu cao 134 m.
 Ở trên cao, gió biển thổi mạnh như muốn hất bạn xuống cầu. Còn dưới chân, một bên là biển xanh của Vịnh Sydney, vàb ên kia là cả thành phố Sydney rực rỡ trong nắng mai.
Không mạnh sao được khi " mắt bạn hoa lên, tim bạn đập mạnh khi đọc dòng chữ " giá 155 đô Úc cho 1 lần leo cầu vào ngày thường và  $175 đô Úc cho 1 lần leo cầu vào thư bảy, chủ nhật.

Cái giá "Leo Cầu" không chỉ làm cho du khách Việt Nam đau tim mà ngay cả những Việt Kiều ở Úc mà tôi đã hỏi thăm cũng đều khẳng định một điều "đứng trên mặt đất, tay bỏ vào túi quần vưà ngắm cầu vừa sờ $ 155 đô Úc trong túi quần vẫn thích hơn".

Khách muốn leo cầu ngoài việc phải bỏ một số tiền lớn ra còn phải book vé trước.

 Vào mùa cao điểm, phải book vé trước cả tháng mới có vé chứ phải dễ đâu.
Khách đi cầu được xếp thành từng nhóm 10 người. Cứ 15 phút có một đoàn xuất phát.
 Thử làm một bài tính nhanh. Một giờ có 40 khách.
 Với 10 tiếng trong ngày có được 400 khách và người ta đã thu được  $ 62,000 đô Úc và trong một tháng thu được hơn $ 1,350,000 đô Mỹ....
Nhiều lần đến Sydney, đứng ngắm cây cầu nổi tiếng, tôi cũng mơ một ngày được leo lên cây cầu cảng Sydney.

 

Và rồi mơ được, ước thấy. Tôi cũng có dịp tiếp cận với cái tour cảm giác mạnh này.

 Đoàn của tôi có 40 người mà hết 3 người có lập trường kiên định " có cho thêm  $155 đô Úc cũng không leo cầu".
- 1 người thì thấy vui và bị cả đoàn xúi quá nên thay đổi lập trường. Vé thì đã mua rồi không đuợc hoàn lại.
 Thế là anh lái xe và cô hướng dẫn người Úc của đoàn được dịp tình nguyện "hi sinh".
 Đúng là dịp may không đến lần thứ 2 với họ. Còn 1 vé thì tiếc vô cùng nhưng không làm sao gọi gấp 1 người bạn Việt Kiều đến hưởng sái.
 Thời gian leo cầu mất 3 giờ 30 phút. 
Mỗi nhóm gồm 10 người có một hướng dẫn viên chuyên nghiệp chăm sóc.
 Mỗi nhóm xuất phát cách nhau 15 phút.Trước tiên là kiểm tra nồng độ rượu qua hơi thở. Mọi người được đọc qua các điều lệ của cuộc chơi và ký vào tờ cam kết là không mắc các bệnh về tim mạch...
Mọi thứ mang trên người như nữ trang, kiếng mát, đồng hồ, kẹp tóc, máy ảnh...đều phải cho vào một hộc tủ rịêng của mình và khoá lại.

 Chìa khoá được mang vào cổ tay. Mỗi người đuợc phát một bộ áo liền quần vừa với kích cỡ của mình. 
Mặc thêm áo ấm -jacket  (nếu trời lạnh) hoặc áo mưa (nếu trời mưa), đội nón, mang găng tay.
 Tất cả các thứ dễ rơi như nón, găng tay, kiếng đều được buộc vào cổ tay hoặc cái móc sau cổ áo để bảo đảm rằng không có gì có thể rơi xuống đất được. 
Sau đó là chọn một đôi giày bảo hộ, mang một đai an toàn có một cái móc sắt để móc vào sợi dây cable được kéo dọc theo lối đi.
 Cuối cùng là một ống nghe kèm một radio FM để nghe các hiêu lệnh và thuyết minh.
Trước khi leo cầu, cả đoàn được đưa đi thử trên một đoạn cầu giả để làm quen với các dụng cụ bảo hộ và xem thử ai thật sự yếu tim thì còn ngăn lại kịp thời.
Cả đoàn từ từ leo lên cầu bên nhánh phía đông. Vừa leo, vừa nghe hướng dẫn viên thuyết minh về lịch sử của cây cầu. Con đường đi hơi dốc làm cho một số người cảm thấy mệt. Nhưng càng lên cao càng cảm thấy thích thú. 

Sau khi leo hết 250 m, đoàn đã đứng trên đỉnh cầu. Ai cũng muốn la thật to vì ...quá đã, la thật to cho át tiếng gió..
..Nhìn bên dưới là nhà hát con sò nhỏ bé...xa xa là tháp truyền hình trông như một trái dứa non mới nhú...xa hơn nữa là khu phức hợp thể thao được xây cho Olympic 2000. Cả nhóm đứng chung lại để hướng dẫn viên chụp hình lưu niệm. Lúc này hướng dẫn viên kiêm luôn nhiếp ảnh gia tha hồ mà làm ăn. Đã lên đến đỉnh cầu này thì chẳng ai tiếc tiền cho một tấm hình có giá  $20 đô Úc.


Sau khi móc hết hầu bao của mọi người, hướng dẫn viên đưa đoàn băng ngang trên cầu và xuống bằng nhánh phía tây. Con đường đi xuống có vẻ nhẹ nhàng hơn....au khi trút bỏ lại những áo quần bảo hộ, và ra quầy nghỉ ngơi, mọi ngừơi đựơc tặng ngay một tấm hình kỷ niệm chung của nhóm và một tấm bằng (trông oách như bằng tốt nghiệp của đại học New South Wales) chứng nhận bạn đã leo cầu Sydney..
..Mọi người lại móc túi để trả tiền cho các tấm hình chụp trên cầu và các món quà lưu niệm.



Giờ đây, nếu ai hỏi tôi " Nước Úc có gì hay nhất?" thì tôi xin thưa ngay "ấn tượng nhất là đi cầu ở Sydney"
Nghe nói rằng trong năm nay người Úc sẽ tiếp tục kiếm tiền bằng cách cho du khách leo... tháp truyền hình Sydney (Sydney tower) cao 270 mét. 

Với giá vé rẻ hơn vé leo cầu, họ dự kiến sẽ kiếm đươc hơn  $ 60 triệu đô Mỹ trong một năm.
Đúng là du lịch Kiểu...Úc 

 Yhanoi 
tks t/g , exciting trip !

Phố cổ Hội An và những ngôi trường cũ( end)


Tôi viết những dòng thơ đầu tiên khi còn ở trường Duy Xuyên và sáng tác nhiều hơn khi chuyển qua trường Trần Quý Cáp. Nhưng thơ và cả văn cũng chỉ chia sẻ trong nhóm bạn bè gần gũi. Ngoại trừ vài vần thơ tình hiếm hoi như trên, phần lớn tôi viết từ nhiều góc cạnh của số phận con người và đất nước. Đơn giản vì tôi thương đất nước mình. Đời tôi gian truân không khác gì đất nước. Từ thời thơ ấu ở quận Duy Xuyên tơ lụa đến bóng đa chùa Viên Giác Hội An, thơ văn tôi còn lại những dấu chân, những tiếng thì thầm của những người tôi quen và không quen, những hoàn cảnh tôi đã gặp, đã từng là nhân chứng.

Bạn bè văn nghệ chúng tôi hay gặp nhau trên căn gác của Nguyễn Xuân Tường, gần chùa Viên Giác. Tôi chỉ quen Tường sau khi chuyển sang trường Trần Quý Cáp nhưng thân nhau rất nhanh. Tường học giỏi, đàn hay, sáng tác nhạc, làm thơ, học cả lớp báo chí hàm thụ của tạp chí Phổ Thông. Thơ của Tường đăng nhiều nhất trên tạp chí Thứ Tư, ký bút hiệu Mặc Vũ. Tôi biết nhiều về báo chí cũng nhờ học ké các sách vở trong lớp hàm thụ của Tường và tập đàn từ cây đàn của Tường. Tường có đức tính rất tốt, tận tụy hy sinh cho bạn bè. Trong những ngày cùng khổ ở Sài Gòn, khi không còn nơi nào khác để trọ, tôi tìm đến Tường. Cậu ấy giới thiệu tôi dạy kèm ở nhà người bà cô ruột của cậu ta. Người đàn bà có tâm hồn bao dung như dòng sông Hằng đó sau thời gian ngắn đã trở thành mẹ nuôi của tôi.


Từ đó tôi không còn khó khăn về vật chất và cả tinh thần nữa. Mẹ người Kim Bồng nhưng trong các tác phẩm của mình, tôi thường gọi mẹ là Mẹ Hòa Hưng để phân biệt với Mẹ Duy Xuyên đã mất. Tôi hay chọc mẹ tôi cười nhất là trong những lần đánh bạc ăn gian với đám em trong ba ngày Tết. Mười năm sau khi rời Sài Gòn, tôi viết tặng mẹ bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười. Mẹ rất thích bài thơ này. Anh Võ Tá Hân phổ bài thơ thành nhạc, nhiều ca sĩ hát nhưng ước mơ của mẹ là một ngày tôi sẽ về để hát mẹ nghe. Dĩ nhiên là tôi lại hứa như bao lần lần lỡ hẹn đã qua.


Ngoài giờ học ở trường Trần Quý Cáp và gặp gỡ một số bạn bè giới hạn, tôi chỉ ở chùa đọc sách. Sau ngày xây xong Trung Tâm Sinh Hoạt Thanh Niên, sư phụ tôi có ý định thành lập một thư viện nên thu thập rất nhiều sách. Ý định không thành, thầy đóng sách thành từng thùng và để dành trên lầu. Bên cạnh kinh điển là các tác phẩm văn học, kinh tế và rất nhiều sách chính trị. Tôi còn nhỏ nên công việc tôi làm mỗi ngày rất nhẹ nhàng không phải gánh nước tưới rau như các chú lớn tuổi. Những ngày không đi học, sau khi lau chùi bàn ghế trong giảng đường và quét lá đa một nửa sân chùa xong tôi thường dùng thời gian còn lại để đọc sách.


Trường Trần Quý Cáp không có trung tâm thi tú tài. Mùa hè 1972, học sinh các lớp đệ nhất trường Trần Quý Cáp chúng tôi lều chõng đi thi tú tài phần hai ở trung tâm Đà Nẵng. Chủ tịch hội đồng giám khảo là thầy Hoàng Trung, nguyên hiệu trưởng trường Trần Quý Cáp. Ngày công bố kết quả ở trường Nữ Trung Học Đà Nẵng, bác tôi từ bên Sơn Chà đạp xe qua để cùng tôi đi xem bảng. Tôi chỉ muốn đi một mình vì không muốn bác đau lòng nếu chẳng may tôi rớt. Bác nhất định cùng đi. Ngày dán kết quả, hẳn nhiên, là ngày vô cùng hồi hộp.


Sân trường Nữ Trung Học ngày đi coi bảng rộn tiếng cười nhưng cũng đầy nước mắt. Khi đến họ Trần, danh sách thi đậu chỉ có vài tên vần chữ T và chấm dứt. Không có tên tôi. Những tờ kết quả dán bên dưới thuộc về các ban khác. Bác tôi mắt yếu không đọc được nhưng thấy tôi không nói gì, bác biết sự im lặng là một dấu hiệu không vui. Khi quá lo lắng, tôi quên nghĩ đến một điều vô lý, chẳng lẽ các họ bắt đầu với các vần U,V,X,Y …đều rớt hết hay sao, nhất là rất nhiều người họ Võ và Vũ. Thì ra, người dán kết quả thấy phía dưới ban khác chiếm, đã dán phần còn lại ở một bức tường khác khá xa.

 Tôi tìm ra và thấy tên mình trong đó. Bác tôi mắt yếu nhưng vẫn cố chen lấn vào để chính mắt đọc tên tôi.Tôi ôm chầm các bạn vần T, V, nhảy nhót vui mừng, nhưng khi chợt nhìn lên, tôi thấy bác khóc.
 Với tâm hồn mộc mạc, bác không vuốt tóc hay nói một lời khen nhưng từ dòng nước mắt đang chảy trên đôi má nhăn nheo của cụ già Quảng Nam chất phác, tôi biết bác mừng lắm. Bác tôi ít nói.
 Khi buồn ông đi uống rượu. Tánh tình ông hiền hậu và rất dễ mềm lòng. Một lần tôi học lớp đệ ngũ ở Vĩnh Điện bác đạp xe từ Sơn Chà vào thăm. Dù trong giờ học nhưng bác nhất định không chờ. Nhân viên văn phòng đành đưa bác đến phòng học để gặp tôi. 
Bác đứng giữa lớp khóc ngon lành khi thấy tôi đang ngồi trong một góc phòng. Thầy cô và bạn học biết hoàn cảnh tôi nên không ai nói gì. Tôi rời lớp theo bác ra ngồi trên bậc tam cấp. Tôi dặn bác đừng khóc và cũng đừng vào thăm nữa, tôi sẽ bình an.
 Nói thế cho bác yên tâm mặc dù tôi không biết đời mình rồi sẽ ra sao. Thằng bé ốm yếu mười ba tuổi ngồi bên ông già Quảng Nam giữa một quê hương đang đong đưa trong cơn bão. Khi bác đạp xe ra về, nhìn theo chiếc lưng còm cõi của bác, lòng tôi se lại, tôi nhớ cha tôi vô cùng. Nhiều khi tôi thấy mình như những cọng lau bên bờ sông Thu, khi cong tưởng chừng sát đất nhưng rồi lại đứng lên và đi giữa cuộc đời.

Coi bảng Tú Tài xong, bác tôi hớn hở tự đạp xe ra phà để về lại Sơn Chà. Sau này nghe bác kể tôi mới hiểu ra, bác khóc không phải chỉ vì mừng cho tôi đậu tú tài thôi nhưng còn nghĩ đến ba tôi, em trai kế của bác, đã qua đời vài năm trước đó. Ước mơ của ba tôi, người thợ dệt vải ở Duy Xuyên mong con mình đậu tú tài đã thành sự thật. Ông nội tôi có tám người con gồm cả trai lẫn gái nhưng không gia đình nào thành công trên đường học vấn. Các anh họ lớn tuổi của tôi, ra đi dù theo bên này hay bên kia đều không ai trở lại. Anh chết bên này sông Thu, em chết bên kia sông Thu. Tôi giận bác tôi nhiều chuyện trong gia đình nhưng từ hôm đó về sau tôi thương bác vô cùng. Đi bộ trên đường Hùng Vương ra bến xe Chợ Cồn để về Ngã Ba Huế, tôi muốn la lớn lên cho mọi người cùng biết tôi đang có một niềm vui nhưng không còn một người thân nào trong gia đình để san sẻ.


Tôi quyết định đi Sài Gòn dù trước đó có thầy khuyên tôi nên ra Huế học. Tôi phải đi xa. Không gian nhỏ hẹp ở quê hương hay ở Huế dường như không đủ chỗ cho niềm u uất của tôi trang trải. Tôi về lại Duy Xuyên thăm mộ mẹ lần cuối trước ngày đi. Ngày xưa mỗi chiều đi học ở trường Tiểu học Xuyên Châu về tôi thường dừng lại ở đây. Cỏ hoang không mọc kịp để tôi nhổ. Hôm đó tôi về, ngôi mộ mẹ tôi đầy cỏ dại. 

Từ độ tôi ra Vĩnh Điện, Đà Nẵng rồi xuống Hội An trọ ở chùa Viên Giác, chẳng còn ai chăm sóc phần mộ mẹ. Phần lớn bà con đều đã tản cư ra Đà Nẵng. Trong xóm chỉ còn lại vài gia đình sống ngay giữa hai lằn đạn, bám lấy ruộng vườn vì không biết đi đâu và cũng không biết lấy gì để sống nếu chạy ra ngoài Đà Nẵng.
 Tôi ngồi thật lâu bên mộ mẹ. Phía bên kia là Cầu Chìm. Mùa hè, dòng nước Thu Bồn như nước mắt tôi sắp cạn. Ngôi nhà nhỏ của cha con tôi bị cháy rụi chỉ còn trơ trụi một nền đất. Tôi hứa với mẹ tôi mùa hè sang năm con sẽ trở về. Tôi tạm biệt ngôi làng nhỏ ra đi, hành trang của tôi không còn gì ngoài tình thương và khát vọng tự do.


Tôi là một trong những học sinh lớp đệ nhất cuối cùng rời Phố Hội thân yêu. Lý do, sau khi thi xong Tú Tài phần hai tôi bị bịnh nằm ở Đà Nẵng suốt mấy tuần. Tôi ở nhà một người cô để được cô chăm sóc. Một cô bé cùng quê có đôi mắt đen tròn mỗi chiều đến thăm tôi. Cô tôi nghi ngờ chúng tôi có tình ý gì. Tôi không có và cô bé cũng không. Chúng tôi lớn lên với nhau từ những ngày còn bé ở trong quê. Giống như bây giờ, hồi đó tôi đã thích lý sự những chuyện “trên trời dưới đất” nhưng cô bé dù không hiểu gì cũng kiên nhẫn ngồi nghe. Âm nhạc cũng thế.

 Những bài hát tôi hay hát thời đó như Thiên Thai, Thu Hát Cho Người đài phát thanh Đà Nẵng thường không phát nhưng cô bé nghe tôi hát riết cũng quen tai. Một tình cảm nhẹ nhàng bàng bạc như khói sương trong cả nhiều năm sau đó. Những năm học đại học ở Sài Gòn, mùa hè nào tôi cũng về Đà Nẵng. Cô bé rất vui mỗi khi thấy tôi về và tôi cũng nghe như có tiếng chim hót trong lòng mỗi lượt về thăm, cho đến một ngày hè 1981, cánh chim nhỏ bay qua bên kia biển rộng, chưa về.

 

Khi khỏe ra, tôi vào Hội An dọn dẹp sách vở, đảnh lễ thầy trụ trì và chào các chú trong chùa để ra đi. Thầy trụ trì cho tôi một ít tiền để đi đường nhưng không nói gì thêm nhiều. Cuối tháng Tám và mùa thu sắp sửa trở về. Trong tiếng lá đa xào xạc tôi tự mở cánh cửa để ra đi âm thầm như khi tôi đến. Không một nụ cười hứa hẹn quay về và cũng không một giọt nước mắt khóc chia tay. Như Nguyễn Bính tả trong Những bóng người trên sân ga, tôi “một mình làm cả cuộc phân ly”

. Không ai bà con ruột thịt với tôi. Tôi không phải là một chú tiểu, một tăng sĩ, một đệ tử xuất gia của sư phụ mà chỉ là đứa trẻ mồ côi trọ học.
 Số phận của tôi không khác gì số phận của hàng triệu đứa trẻ bất hạnh trên đất nước Việt Nam thời đó. Nhưng tôi tin, tôi đã học được rất nhiều và thay đổi rất nhiều sau thời gian ở chùa Viên Giác. Tôi hiểu bao dung tha thứ là điều cần thiết nhưng quan trọng hơn phải biết bao dung tha thứ cho chính mình trước.
Những năm ở chùa Viên Giác đã làm dịu cơn phẫn nộ trong lòng một đứa bé bị chiến tranh tàn phá, hủy diệt gần như tất cả những gì yêu quý nhất.
 Lời dạy “Hãy thắp đuốc lên mà đi” của Đức Phật đã ảnh hưởng đến nhân sinh quan và thế giới quan của tôi. Con người ai cũng có thể dăm đôi lần bị té ngã nhưng phải biết buông xả, đứng dậy và tiếp tục đi. Tôi đã đứng dậy, đã đi, đã sống sót qua nhiều thử thách. 
Tháng Hai vừa qua, đứng trước tảng đá nơi Đức Phật có thể đã ngồi giảng bài pháp đầu tiên bên Vườn Lộc Uyển, tôi xúc động và cảm thấy mình như chiếc lá từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước vừa rơi về cội.
 Chiếc lá đa chùa Viên Giác Hội An, chiếc lá bồ đề ở Vườn Lộc Uyển Sarnath hay giọt nước sông Hằng Varanasi chỉ là một, một tâm hồn, còn và mất, ra đi và lại trở về. Khi chuyến xe rời Lộc Uyển ra phi trường Varanasi, tôi ngoái đầu nhìn lại và thầm thưa nhỏ trong lòng “Con cám ơn đức Bổn Sư”.

Cuối tháng Tám 1972, các bạn đi du học đã đi rồi, các bạn đi Sài Gòn học đã đi rồi và cả các bạn đi học ở Huế cũng đã đi rồi. Thành phố vốn đã vắng lại càng vắng hơn. Tôi đi ngang qua trường Trần Quý Cáp. Mùa hè sắp hết. Hoa phượng đỏ đang tàn. Thầy cô chưa trở lại. Từ nay Trung học Trần Quý Cáp không còn là trường học mà là kho tàng của tuổi trẻ chúng tôi.

 Bàn ghế, hộc tủ, bảng đen, những câu thơ viết vội trên tường mãi mãi sẽ là chứng tích. Tôi ra đi mang theo hình ảnh thầy cô và rất nhiều điều đáng nhớ nhưng không thể nào viết hết ra đây.
 Những lời dạy dổ của các thầy, các cô là nhựa nguyên, nhựa luyện cho cây đời tôi xanh lá. Những năm sau đó, vào Sài Gòn và rồi ra nước ngoài, dù học thêm ở nhiều trường lớn hơn, dù ngồi trong những giảng đường khang trang hiện đại hơn, dù học với những giáo sư tên tuổi hơn, một điều tôi luôn ghi khắc trong lòng, ánh sáng rực rỡ của ngọn đèn đại học Mỹ đã được thắp lên từ những cây diêm rất nhỏ ở Trung học Duy Xuyên, Trung học Trần Quý Cáp ngày xưa.

Nếu định nghĩa giáo dục là những gì còn lại sau khi quên hết, những gì còn lại trong tôi không phải là những nguyên tắc máy móc, những công thức khô khan mà là những bài giảng công dân giáo dục nhẹ nhàng nhưng cần thiết của thầy cô, những khát vọng và ước mơ tuổi trẻ mà tôi nung nấu dưới mái ngói đơn sơ của ngôi trường mẹ, Trung học Trần Quý Cáp Hội An.


Trần Trung Đạo

(Viết cho đặc san Trường Tôi kỷ niệm 60 năm thành lập TH Trần Quý Cáp, Hội An 1952-201
2)


           ***********************************
@@  Ấn tượng về Hội an trong ký ức là đèn lồng lung linh nơi phố cổ trong ngày tết Trung thu , món cao lầu Hội an mang đậm  nét văn hóa món ăn xứ Quảng , kiến trúc cổ kính mang phong cách riêng ,mang đậm bản sắc văn hóa khiến cho du khách trong nước lẫn nước ngoài khi đến thăm Hội an sẽ lưu luyến không quên ....
  Bài viết về ngôi trường cũ và phố cổ Hội an của t.g Trần Trung Đạo giúp chúng ta khám phá & hiểu biết thêm về Hội an rất giá trí và súc tích .tks t/g !
 Camly
08/31/2012 

Phố cổ Hội An và những ngôi trường cũ


Tôi đến trung học Trần Quý Cáp bắt đầu với hành trình ở chùa Viên Giác. Tôi nhớ rất rõ, ngày cuối mùa hè ở trường Nguyễn Duy Hiệu năm 1968, nơi trường Duy Xuyên  mượn chỗ để dạy cho các học sinh Duy Xuyên vừa tản cư ra sau trận Mậu Thân, thầy hiệu trưởng Nguyễn Phúc Mai cho chúng tôi biết sang năm trường sẽ dọn xuống Hội An.
 Vì một số thầy cô như thầy Nguyễn Phúc Mai, thầy Võ Văn Mạo đều là người Hội An nên việc di chuyển xuống Hội An với các thây không có gì trở ngại. Các học sinh không nhà như tôi là chuyện gian nan.
 Tôi vừa ở Hội An cách đó vài tháng sau ngày cha tôi mất. Tôi bỏ chùa Viên Giác ra đi. Nhưng có thể tôi lại phải vào chùa xin tá túc một lần nữa, và lần này chắc sẽ ở rất lâu. Thật tâm tôi không muốn trở lại chùa, nhưng nếu không rồi tôi sẽ đi đâu.
 Đời tôi thường không có nhiều chọn lựa.
Năm học 1969, trường Duy Xuyên dạy ở đình Cẩm Phô cách chùa Viên Giác không xa. 

Tôi học lớp đệ tứ. Buổi liên hoan chia tay nhau ở trung học Duy Xuyên cuối năm đệ tứ là một ngày đầy cảm động. Trường Duy Xuyên rất tội nghiệp. Không có cơ sở riêng như hầu hết các trường công lập khác, phải dạy nhờ lang thang từ quận này sang quận nọ, từ trường Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện xuống đình Cẩm Phô ở Hội An. Sang năm sau, chúng tôi chuyển sang trường đệ nhị cấp Trần Quý Cáp.Chiến tranh và tuổi thơ trôi nổi đã làm chúng tôi trưởng thành rất sớm. Buổi liên hoan chia tay được tổ chức long trọng trong phòng rộng phía bên phải đình Cẩm Phô.
 Năm đó, tôi 14 tuổi và đứa lớn nhất trong bọn tôi cũng chỉ mới 15 tuổi nhưng tôi nhớ rất rõ ngôn ngữ trong lời phát biểu của đại diện ban tổ chức rất ư là người lớn, tương tự, diễn văn của anh trưởng lớp rất xúc động và hùng hồn. Chúng tôi tự viết lấy, không ai viết giùm.
 Lá thư gởi thầy cô và bạn bè cùng lớp do tôi viết với những lời đầy hứa hẹn cho mai sau.
 Giáo sư  hiệu trưởng Nguyễn Phúc Mai, giáo sư hướng dẫn Võ Văn Mạo cũng nhắn gởi chúng tôi những lời khuyên nhủ rất chân thành.
Thầy Võ Văn Mạo kể chúng tôi nghe câu chuyện một ông thủ tướng Pháp, tôi không còn nhớ tên, sau khi thành danh trở về trường cũ thăm thầy như một cách dặn dò chúng tôi ra đi nhưng đừng quên nguồn gốc. Chúng tôi trịnh trọng và vui vẻ hứa với thầy sẽ về Hội An thăm các thầy cô dù không phải là thủ tướng. Thầy trò cùng cười.

 Nhưng lời hứa chưa thành sự thật. Bao nhiêu mùa thu qua nhưng những chiếc lá trong sân đình Cẩm Phô vẫn còn tản mát mỗi người một ngả. Nhiều chiếc lá đã khô và rụng ở một góc trời nào đó.
 Suốt đời thầy Võ Văn Mạo gần gũi với học trò và chúng tôi cũng rất gần gũi với thầy. Thầy có tật ở chân nhưng nhờ chiếc xe mobylette màu xám quen thuộc đã đưa thầy lên Duy Xuyên và rồi Vĩnh Điện mỗi tuần. Nghe đâu nhà thầy ở gần rạp Phi Anh nhưng tôi chưa bao giờ đến.Ngoài thầy Võ Văn Mạo, một người thầy tôi quý mến khác và cũng thương tôi nhất trong suốt bốn năm ở trung học Duy Xuyên là thầy Phùng Ngọc Nhựt dạy Việt Văn và Nhạc. 
Thầy có vóc dáng rất nghệ sĩ,  đeo kính đen, tóc bềnh bồng, có vẻ “lập dị” nhưng có một lòng yêu quê hương thấm đậm. Bài hát đầu tiên thầy tập cho chúng tôi hát trong những ngày chưa tản cư ra Vĩnh Điện là bài Những Nẻo Đường Việt Nam. Thầy hát không hay lắm nhưng truyền cảm và chuyên chở tình yêu quê hương bát ngát. 
Tôi cũng thích hát. Dù học rất thường trong những môn khác, tôi luôn đứng nhất trong môn nhạc. Ngày đó tôi đang mang trên vai nỗi buồn quá nặng so với tuổi tác của mình và thầy cũng mang một tâm sự gì đó vô cùng uẩn khúc nhưng không thể san sẻ với ai nên những buổi chiều ở Vĩnh Điện, hai thầy trò thường ngồi trên hành lang hát vu vơ “Những nẻo đường Việt Nam, suốt từ Cà Mau thẳng tới Nam Quan, ôi những nẻo đường Việt Nam…” Nửa thế kỷ trôi qua nhưng tôi vẫn còn nhớ tiếng hát của thầy vang lên trong căn phòng nhỏ ở thị trấn Vĩnh Điện xa xôi. Mới đây, tôi nghe tin thầy đã qua đời.
Dù biết dù còn sống chưa hẳn có thể gặp nhau, nhưng ra đi vĩnh viễn thật là buồn. Tôi không nhớ là thầy theo trường xuống Hội An.
 Sau những ngày ở Vĩnh Điện thầy trò chúng tôi chưa gặp nhau lần nào nữa.Từ giã ngôi đình cổ, chúng tôi bước vào một ngôi trường khang trang, quy cũ Trần Quý Cáp.
 Không giống hai năm trước đây chỉ học cho có vì cả thầy lẫn trò đều lang thang, năm đệ tam là năm tôi thực sự đi học. Theo một tài liệu được tổng kết một cách khách quan về lịch sử trường từ ngày thành lập 15 tháng 9 năm 1952 đến năm 1975 Trung học Trần Quý Cáp chỉ có bốn thầy hiệu trýởng gồm thầy Tăng Dục, thầy Hoàng Trung, thầy Lưu Chí Kiên và thầy Trần Huỳnh Mính. Những năm tháng đầu trường dạy nhờ tại một ngôi chùa của người Hoa trên đường Cường Để. Địa điểm hiện nay chỉ được xây xong trong niên khóa 1955-1956.
 Trong thời gian tôi vào, năm lớp ở dãy giữa chưa có các tầng lầu như hiện nay. Năm 1973 này Kỳ Đài Trần Quý Cáp được khởi công xây do hai kiến trúc sư Nguyễn Hy Văn và kiến trúc sư Đô Thị Gia phác họa. Giống như hầu hết các trường trung học, trường Trần Quý Cáp rộng với những hàng phượng trồng dọc theo hành lang.
 Bên cạnh các cây phượng rất già được trồng sát với dãy lớp giữa là những cây phượng còn non mới lớn ở ngoài sân. Tính từ lối vào, các lớp nhỏ học bên trái và cứ thế lên cao dần cho đến các lớp đệ nhất. Cổng trường ngày đó đơn giản, màu gạch rêu phong với tấm bảng thiếc và hàng chữ Trung Học Công Lập Trần Quý Cáp.Hiệu trưởng của chúng tôi ở Trung học Trần Quý Cáp trong ba năm tôi học từ cuối năm 1969 đến tháng 6 năm 1972 là thầy Lưu Chí Kiên và Tổng Giám Thị là thầy Tống Khuyến.
 Vì là trường lớn nhất của tỉnh nên trường Trần Quý Cáp có một ban giáo sư đông đảo và số lượng thầy cô tăng rồi giảm, đến rồi đi, cũng rất nhanh. Tôi chưa đọc một danh sách giáo sư Trung học Trần Quý Cáp nào đầy đủ. Theo một tài liệu được viết khá sư phạm và khách quan, năm tôi vào học, trường Trần Quý Cáp có đến 2.190 học sinh, trong đó có 27 lớp đệ nhất cấp và 17 lớp đệ nhị cấp.
 Tôi không nhớ hết thầy cô nhưng tên thầy cô mà tôi học trong ba năm vẫn còn nhớ:  Thầy Nguyễn Văn Liêu dạy Việt Văn, thầy Phan Khôi dạy Anh Văn, cô Trần Phương Lan dạy Anh Văn, cô Bích Ty dạy Triết, thầy Phạm Phú Lợi dạy Triết, thầy Nguyễn Ngọc Anh dạy Sử Địa, thầy Đặng Văn Bôn dạy Vạn Vật, thầy Phùng Rân dạy Lý Hóa, thầy Nguyễn Như Thọ dạy Toán, cô Nguyễn thị Nguyệt dạy Việt Văn, thầy Tống Nhạn dạy Pháp Văn, thầy Tăng Kim Lân dạy Sử Địa, thầy Tống Diệu dạy Anh Văn.
Năm đầu ở trường Trần Quý Cáp, thầy Nguyễn Ngọc Anh và thầy Nguyễn Văn Liêu là hai thầy tôi thích nhất vì tôi thích học văn và sử. Tôi nhớ có lần thầy Liêu ra đề luận “Các em học sinh nghĩ gì về chiến tranh”. 

Tôi nhập đề chỉ bằng một câu vỏn vẹn “Chiến tranh đã làm xã hội Việt Nam đảo lộn”. Trong lúc đa số học sinh trong lớp nghe tới chiến tranh là tả những cảnh ánh hỏa châu rơi, tiếng súng xa xa vọng về, tôi nghĩ đến con người và những đổ vở trong xã hội Việt Nam. Thầy Liêu rất thích cách viết đó và đọc bài luận cho cả lớp nghe.
Chiến tranh gây ra bao tang tóc, bao tàn phá nhưng từ lúc học lớp đệ tam cho đến bây giờ tôi vẫn tin cái tàn phá tai hại nhất của chiến tranh không phải là tài sản mà là con người. Bao nhiêu lớp người đã chết, bao nhiêu thế hệ đã ra đi và sẽ không bao giờ trở lại trên đất nước Việt Nam.

 Những mất mát đó không bù đắp được. Những vết thương trên da thịt có thể sẽ lành đi nhưng vết thương trong tâm hồn khó mà phai nhạt.
 Người ta thường nghĩ đến việc tái thiết đô thị, xây dựng nhà cửa, cầu cống nhưng cái cần tái thiết và xây dựng là tình người. Còn tình người Việt Nam chúng ta sẽ còn Việt Nam mãi mãi. Mất tình người Việt Nam, dân tộc này sẽ bị diệt vong. 
Nhiều khi ngồi nhớ lại những bài luận năm xưa và những tiểu luận tôi viết bây giờ, cách viết cũng không nhiều thay đổi. Ước gì thu thập lại được tôi sẽ in thành sách. Thầy Liêu ở Đà Nẵng, chỉ vào trường Trần Quý Cáp dạy một năm đệ tam niên khóa 1970, sau đó hình như thầy không dạy nữa.Thầy Nguyễn Ngọc Anh có kiến thức lịch sử rất rộng. Thầy cũng chỉ dạy tôi năm lớp đệ tam 1970. Thầy dạy sử Việt Nam nhưng cũng hay nhắc đến sử Trung Hoa. Thầy thường mặc áo sơ mi trắng, khuôn mặt trẻ trung và hình như thầy người Huế.
Thầy giảng rất hay vì nghĩ sao giảng vậy một cách tự nhiên, hùng hồn. Rất ít khi tôi thấy thầy để mắt vào sách giáo khoa. Ngay cả cách hỏi bài cũng vậy, thầy thích hỏi câu gì thì hỏi, nhiều khi không liên hệ gì với bài học trong tuần. Đang học chuyện ai thống nhất Việt Nam lần đầu thầy buột miệng hỏi ai thống nhất Trung Hoa lần đầu. Tôi cũng thích lối dạy đó.

 Sử học là một khoa học đối chiếu. Nếu chỉ biết sử nước mình mà không biết sử nước khác rất dễ dẫn đến một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan hẹp hòi và ngủ vùi trong vinh quang quá khứ Thầy Nguyễn Như Thọ dạy tôi môn Toán lớp đệ nhất năm 1972.
 Thầy hơi ốm, đẹp trai và vui tính. Nhà thầy ở gần đình Cẩm Phô và đến trường bằng chiếc xe Vespa màu xanh nhạt.
 Thầy dạy trường công và cả trường tư. Ngoài ra, mùa hè thầy còn dạy các lớp luyện thi. Thầy dạy toán nhưng không quá khắt khe. 
Mỗi khi có đứa nào nói chuyện trong giờ học, thầy gọi tên nhưng khi cậu ấy vừa ngẫng lên, thầy ném cho cậu ta một viên phấn nhanh như ném phi tiêu. Thầy trò nhìn nhau cười huề. Thầy viêt trên bảng đen rất đẹp và ngay cả vẽ được một vòng tròn 360 độ chỉ bằng một nét không dừng tay. Có lúc vẽ thành công nhưng giống như cuộc đời cũng nhiều khi vòng tròn không được kín. Khi nghe thầy trải qua nhiều gian truân và đã sang đến Mỹ, tôi thầm mong có một ngày được viếng thăm thầy. Cô Nguyễn Thị Nguyệt dạy tôi môn Việt Văn lớp đệ nhất năm 1972.
 Cô Nguyệt có vóc dáng mảnh mai, mái tóc thề đen lánh bao giờ cũng chải mượt mà. Trong mắt tôi cô Nguyệt đẹp nhất trong số các cô mặc dù cô Phương Lan quý phái và cô Bích Ty hiền hòa.
 Ngày đó cô Nguyệt vừa tốt nghiệp sư phạm về dạy Việt Văn ở trường Trần Quý Cáp nên tuổi cô cũng chỉ mới ngoài hai mươi. Cô thường mặc áo dài xanh. Tôi hay đứng trên hành lang nhìn cô đi trong sân trường. Một cảm giác thật dịu dàng nhưng không đủ để thành thơ nên tôi không có bài thơ nào viết tặng cô ngày đó. Cách đây hai năm cô sang Mỹ, anh Nguyễn Hồng Hà, một cựu học sinh Trần Quý Cáp của thập niên 1960, giới thiệu và tôi may mắn được đến thăm cô ở Boston. 
 Cô Nguyệt là người duy nhất trong số các thầy cô dạy ở Trung học Trần Quý Cáp tôi được gặp lại. Mấy chục năm qua, đứa học trò ngẫn ngơ năm xưa nay đã già nhưng cô Nguyệt trong tâm hồn nó vẫn còn rất trẻ. Từ cổng vào, lớp học của tôi là lớp thứ hai, dãy bên phải. Nhìn sang phía bên kia là Ty Cảnh Sát Quảng Nam chỉ cách một hàng rào. Tôi không biết phòng sát với lớp học tôi có phải là phòng thẩm vấn hay không nhưng thỉnh thoảng tôi nghe tiếng la hét, khóc than, van xin, hăm dọa. Tôi hay tò mò nhìn sang và thắc mắc chuyện gì đang xảy ra bên đó nhưng tất cả bị che khuất bằng một hàng rào kẽm gai cao. Trong lớp, chỗ tôi ngồi sát cửa sổ. Nhiều khi tôi muốn đóng lại để khỏi nghe tiếng la hét khóc than. Bên kia ô cửa, những con chim sẻ thường bay về cất tiếng líu lo trên những bụi cây. Sau này, mỗi khi đọc lại những câu thơ của anh Trần Hoài Thư  “Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ, những cánh chim từ xa vắng lạc bầy” tôi hình dung cảnh cũ và chợt nghe lòng xót xa thương thầy cô, nhớ bạn bè. Trong những ngày ở Mỹ, họa hoằn lắm mới nghe tin một người bạn cũ.
 Thỉnh thoảng mới biết tin một thầy cô nhưng phần lớn chỉ để chia buồn như trường hợp cô Phương Lan vừa qua đời năm ngoái. 
 Nhiều lần tôi tự hỏi, sau bao khói lửa chiến tranh, nghèo nàn tù tội, biển cả mênh mông, bạn bè tôi, những con chim sẻ với đôi cánh nhỏ nhoi lớn lên trong một tỉnh lỵ buồn hiu ngày đó bây giờ phiêu bạt về đâu ! 
 Viết về trường Trần Quý Cáp không thể nào quên nhắc đến Hội An. Dù bây giờ là thành phố UNESCO hay gì đi nữa tôi luôn gọi Hội An là thành phố của tôi. Thành phố trầm lặng có những ngôi chùa tên nghe rất lạ, chùa Ngũ Bang, chùa Âm Bổn, chùa Cầu, nhưng nghe riết nên cảm thấy vô cùng thân thiết.
 Hội An trong tâm hồn tôi chẳng khác gì một căn nhà riêng, nơi đó, từng góc phố, từng con đường, từng mái ngói, từng giọng nói êm đềm của cô bé bưng cà phê, từng giọng rao cao vút của chị bán cao lầu rong đã gắn liền trong một phần đời. Ngày đó Hội An cũng đã có nhiều quán cà phê nhưng chúng tôi thích uống cà phê  ở quán phía trước Tiểu khu Quảng Nam và gần nhà nhất là Cà phê Số Một sát bên con hẽm nhỏ đi vào khu Khổng Miếu.

Hội An những ngày tôi sống buồn và vắng vẻ. Thành phố buồn đến nỗi trong một phóng sự đăng trong trang địa phương của báo Sóng Thần, tôi đã gọi Hội An là ”Thành phố chết”. Không những con người chẳng ai ngó ngàng đến Hội An mà cả chiến tranh cũng bỏ sót Hội An. 
Thật vậy, ngoại trừ trận Mậu Thân và những lần pháo kích, trong suốt mấy mươi năm của cuộc chiến, thành phố của tôi như rơi vào quên lãng.
 Điều rất lạ, ngay cả Mỹ, trong thời cao điểm với cả trăm ngàn quân đóng ở Đà nẵng, cách đó vài chục cây số, không có đơn vị nào lớn đóng ở Hội An. 
Các đơn vị Đại Hàn thuộc sư đoàn Thanh Long hay Mãnh Hổ gì đó đóng ở Cẩm Hà, Lai Nghi chứ không đóng ở Hội An. Hẳn nhiên lý do chính vì Hội An không còn giữ một ví trí kinh tế chiến lược như 300 năm trước.
 Dù sao, nhờ những lãng quên đó mà ngày nay những mái ngói cong còn nguyên vẹn, những cột nhà chạm trổ tinh vi đã giúp thu hút du khách để nuôi sống người dân phố Hội sông Hoài.Những năm chiến tranh, Hội An rất nghèo.
 Một lần, có người hỏi tôi bây giờ Hội An sống nhờ du khách, ngày xưa sống bằng gì.
 Tôi trả lời nửa đùa nửa thật, ngày xưa Hội An sống bằng thơ. Ngoài thơ, tôi không nhớ Hội An sống bằng gì khác. Không ruộng đất, không nhà máy. Không du khách. 
 Mặc dù đất Hội An sản xuất ra hàng trăm nhà thơ nhưng nhà thơ nỗi tiếng nhất Hội An không ai tranh cãi, là Bùi Giáng. Nhà thơ quê Duy Xuyên nhưng học trường Minh Viên ở Hội An và cưới vợ, bà Phạm Thị Ninh, cũng người Hội An. Ông đã rời Hội An 30 năm trước, nhưng để lại những câu lục bát nuôi sống tâm hồn người xứ Quảng qua nhiều thế hệ. Tên Bùi Giáng ở xứ Quảng quen thuộc đến nỗi nhiều khi người ta cứ tưởng ông chưa bao giờ rời khỏi xứ. Một bài thơ của Bùi Giáng về Hội An:
Mơ màng phố cũ hoang liêu
Cánh buồm con sóng sương chiều Hội An
Tờ mây chan chứa mộng vàng
Tuổi đời em kết mấy ngàn cánh hoa
Mừng vui giọt tuổi chan hòa
Bước đi từ đó gió xa bay về
Ngậm ngùi đàn lệ ai nghe
Cội nguồn bên tháng năm thề xẻ chia
Dấu mờ hoen hận còn kia
Hồn trăng soi bóng sầu khuya một bờ.
Hầu hết các nhà thơ Hội An có ít nhất một bài viết về thành phố cổ này và thường là những bài thơ được yêu thích nhất của tác giả như trường hợp Bữa Say Ghé Chùa Ông của Hoàng Lộc, Nụ Hoa Cho Người Em Hội An của Luân Hoán, Trưa Ở Hội An của Hoàng Quy, Ngọn Quế Viễn Phương của Thái Tú Hạp, Hồi Âm của Thành Tôn v.v..
Những người từ Hội An ra đi đều có một nhận xét giống nhau: “Hội An là thành phố để về thăm chứ không phải nơi để ở”. Tuy buồn bã như thế, hàng năm, tôi vẫn về.
 Ngay cả những năm khó khăn sau 1975, tôi vẫn cố gắng về. Đi xa, nhớ Hội An da diếc nhưng khi vừa bước chân về lòng lại muốn ra đi. 
Trong những năm ở Sài Gòn, tôi về Hội An chỉ để đi một vòng phố cổ, đứng trước trường Trần Quý Cáp đảo mắt nhìn các em học sinh để tìm lại chính mình thời học trò, rồi lại ra đi trên những chiếc xe Renault màu xanh đậm và già nua không thua gì thành phố.
Chào cô gái học trò đang tới lớp

Cho tôi làm viên sỏi dưới chân em
Ðể xào xạc hồn tôi khi mới lớn
Chút men tình năm tháng ấy chưa quên.
(Giấc mơ nhỏ của tôi, thơ Trần Trung Đạo)
Hội An của tôi là những buổi chiều ngồi trước cửa nhà thơ Phạm Đình Nguyên ở Ngã Ba Tin Lành ngâm nga “ Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt” và nhìn các em nữ trung học Hội An đi học về trong cơn mưa.

Em về phố Hội chiều mưa lớn
Vóc ngọc ngà khoe dưới lụa hồng
Ta như giọt nước mùa mưa đó
Đã cuốn trôi về trăm nhánh sông.

(Em về phố Hội, Trần Trung Đạo)


 
@@ nếu không có khách du lịch ắt hẳn  Hội an sẽ trầm lặng ,buồn bã lắm
 Riêng phần ẩm thực món Cao lầu thật ngon và ăn chỉ một lần sẽ không quên và khi mua bất cứ món quà kỷ niệm nao đó thậm chí may 1 bộ quần áo trong vòng 24-48hr bạn cũng sẽ hài lòng với cung cách xem khách hàng như thượng đế của người dân Hội an xứ Quảng