Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Quê Hương Với Cái Đòn Gánh Thân Quen


Xem ra, các dân tộc trên thế giới, người đàn bà, con gái không nơi nào dùng đòn gánh như người Việt Nam.
Người Tây phương, người Ả Rập, người Phi Châu, người Mỹ, Nam Mỹ, họ chỉ đội trên đầu, tay xách hay ôm, vai mang (như mang ba-lô) chớ không gánh như người Việt Nam.Có lẽ nền “Văn Minh Cây Tre” sinh ra “Văn Minh Cái Đòn Gánh” bởi vì cây đòn gánh làm bằng tre, không làm bằng gỗ. Gỗ cứng ngắt, không uyển chuyển, không “mềm” nên không làm đòn gánh được.
Đòn gánh làm bằng gỗ gánh đau vai lắm. Đòn gánh làm bằng tre uyển chuyển hơn, hai đầu nặng của đòn gánh nhún nhảy hơn nên đỡ đau vai nhiều.
Người Việt Nam dùng tre trong nhiều việc, cũng từ đó mà sinh ra cây đòn gánh để người ta dùng.
Đòn gánh thường làm bằng tre đực (tre đực là tre đặc ruột), bị đẻo mất mộ nửa, giữa hơi dày để chịu sức nặng, hai đầu hơi mỏng để dễ uyển chuyển.
Đầu đòn gánh có mấu để giữ cho đầu gióng không di chuyển được, không vuột ra khỏi đòn gánh.
Có khi ở đoạn giữa đòn gánh, người ta cặp thêm một đoạn tre ngắn để chịu được nhiều sức nặng hơn.
Gánh những món hàng tương đối nhẹ, như bán chè, bán cháo… người ta dùng loại đòn gánh không cặp thêm cho nhẹ vai. 

Với những vật dụng nặng hơn như gánh lúa, gánh gạo, người ta dùng loại đòn gánh có cặp thêm tre.
Với những món hàng nặng hơn nữa, như cá, củi, than, người ta không dùng loại đòn gánh ngang bằng mà dùng loại hai đầu cong vễnh lên.
Gánh hàng rong là người ta gánh bún, phở, cháo lòng đi bán rong quanh xóm, quanh
làng từ sáng tới chiều. “Gánh hàng hoa” 

- Như tên một truyện của Khái Hưng - là cô gái gánh hoa ra chợ bán, có khi chợ sớm, có khi chợ chiều.
 Do đó mới có câu ca dao:
“Thân em như gánh hàng hoa, Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều.”

 Gánh lúa là người ta gánh lúa từ đồng về nhà. Gánh củi là gánh từ rừng về, cũng hơi xa. ,Gánh cá là xa nhất
Để kịp chợ, để cá được tươi,người gánh cá vừa gánh vừa chạy, thành từng đám cho vui bạn bè.
Gánh lúa cũng có thể dùng đòn gánh hay dùng đòn xóc.
Đòn xóc là một loại đòn gánh nhưng hai đầu nhọn để đâm mũi nhọn vào bó lúa cho dễ.
Gánh lúa là hình ảnh tiêu biểu cho nông dân Việt Nam, nên việc gánh lúa đi vào trong thơ, trong nhạc, và cả trong địa lý.
Trong thơ thì có: “Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”

 (Ca dao),
 trong nhạc thì có “Gánh, gánh, gánh
… Gánh lúa về…”

(Gánh Lúa - Phạm Duy và Lê Yên).
Về địa lý, người ta ví đồng bằng sông Nhị và đồng bằng sông Cửu Long như hai thúng gạo, miền Trung là cái đòn gánh.Phạm Duy viết: “Gạo Nam, gạo Bắc, đòn miền
Trung, gánh đừng để rơi.” đòn gánh làm bằng tre, rất uyển chuyển làm cho người gánh bớt đau vai và thấy nhẹ, nên người Tây dịch chữ đòn gánh là fléau, lấy từ nghĩa của động từ flechir là bẻ cong, còng, làm xiêu, làm dịu, oằn, giảm bớt, hạ xuống.

Sở dĩ người Tây phải dịch là vì xứ họ cũng như Tây phương, Mỹ, Nga không có đòn gánh.
Như mọi người biết, cây tre rất đa dụng. Trước hết, tre làm hàng rào, bảo vệ từng nhà, từng làng.
Giặc cướp, quân xâm lăng khó vượt qua được những lũy tre làng để tiến vào làng nên nhiều nhà sử học cho rằng, cây tre, lũy tre đã góp phần vào việc giúp người Việt Nam giữ vững nền độc lập.

 Đó là nói về chiều sâu, chiều xa.
Gần gủi và cụ thể thì
tre giúp người Việt Nam làm nhà như cột kèo, phên vách, cửa nẽo, kết tranh; làm dụng cụ như thúng, mũng, trẹt, nong… và đòn gánh, đòn xóc.
 

Người không chuyên thì chỉ gánh được một vai, thường là vai phải. Có người gánh được cả hai vai, nhất là những người phải gánh đường xa.
Lúa gánh từ đồng về nhà có khi cũng xa lắm
Gạo gánh từ nhà ra chợ bán cũng xa lắm. Nhứt là mấy bà gánh cá như tôi nói ở trên thì lại quá xa.
Vì vậy, khi gánh một vai bên nầy lâu quá, mỏi thì người ta đổi qua vai kia. Trên đường dài, người gánh phải đổi vai nhiều lần như vậy.
Người ta phải tập mới gánh được. Mấy cô gái quê, 15, 17 tuổi là phải tập gánh.
Khôngbiết gánh, công việc đồng áng tất phải trở ngại. Ban đầu, người ta gánh vài ba chục ký.
Sau đó, khi gánh quen, bớt đau vai thì trọng lượng gánh được tăng lên. Đàn ông lực lưỡng, nếu quen, có thể gánh tới 150 Kg.
Những gia đình ở gần sông, phần đông các cô các bà đều biết gánh nước.

 Tắm giặt có thể ở sông, nhưng phải gánh nước về nhà để nấu ăn.Ngày xưa, người ta gánh nước trong cái thùng gỗ, thùng tre trét nhựa đường cho khỏi chảy.
 Sau nầy, khi có dầu hôi thì người ta thường dùng thùng dầu hôi để gánh nước.
Thùng dầu hôi hiệu Con Gà (Có hình con gà bên hông) hay Con Sò (Có hình con sò bên hông) dung tích 20 lít, nặng 20Kg. Hai thùng hai đầu là 40Kg.
Gánh 40 Kg đi lên dốc bờ sông, nhiều khi đường trơn trợt, cũng là một khổ nạn.
Tuy nhiên, nước sông khi trong khi đục, khi dơ khi sạch, nhứt là khi có nước lũ thì nước đục ngầu, không nấu ăn được.Để có nước nấu ăn, ở thôn quê, người ta thường đào giếng. 

Làng có những cái giếng chung, xây bằng gạch hay đá.Giếng rộng và sâu, đủ nước cho nhiều gia đình. Giếng thường đào bên cạnh gốc đa để có bóng mát cho mấy bà mấy cô ngồi giặt giũ hay chuyện trò.
Giếng làng là nơi tập trung cho mấy cô thông minh; thông minh nên “nhiều chuyện”.
Đi gánh nước cũng là dịp mấy cô gặp nhau để “nhiều chuyện”, chuyện nầy chuyện kia, chuyện mấy cô mấy cậu, chuyện ông nọ bà kia.
Người gánh nước giếng phải mang theo cái gàu; gàu mo hay gàu sắt, gàu tre
. Bạn có biết cái đòn gánh tạo ra cái áo nối vai hay không?
Người Huế, nói chung là người miền Trung, không như người Nam, mỗi khi ra các mệ ,các O xứ Huế ra đường đều mặc áo dài.Mặc áo dài mà đòn gánh đằn vai thì chỗ đòn gánh đặt lên vai áo mau sờn, mau rách. 

Chỗ vai áo thì đã sờn mà cái áo còn tốt nên người ta cắt miếng vải nối vai.
Cái áo trở thành áo nối vai, có khi đồng màu, có khi không. Tôi từng thấy những cái áo dài đen hay nâu nối vai vải trắng.
Cái áo nối vai chứng tỏ cho người ta thấy nỗi khó khăn, gian khổ, vất vả của người đàn bà Việt Nam.
Nói tới “Áo Dài Việt Nam” mà quên cái áo nối vai là một thiếu sót lớn!

 Cách đây ít lâu, đọc cuốn “Hiền Lương Chí Lược” của một ông chú họ, nói về quê nội tôi, tôi thấy ông chú dùng chữ “Đòn gánh đằn vai” để mô tả sự đảm đang của người đàn bà quê nội tôi.
Nó cũng có nghĩa như buôn tảo bán tần vậy. Hễ buôn bán thì “đòn gánh đằn vai.”
Mấy tiếng ấy, lâu ngày đã quên, nay có người nhắc lại, tôi thấy xúc động lắm.

                                 
~~~~~  T
uệChương~~~~
                                                                
                  @@  Dù bạn hay Cly sinh trưởng nơi đâu Bắc ,Trung ,Nam ,hiện tại ban đang sinh sống ở Bắc mỹ ,Âu châu ,Úc châu , Á châu ...
Hình ảnh cánh đồng lúa vàng , đòn gánh ,hay chiếc nón lá vẫn là hình ảnh gần gũi thân quen trong lòng mỗi người Việt tha hương chúng ta ,khi nghe bài dân ca ,câu hò ,câu lý ,hay tiếng sáo trúc ,tiếng đàn bầu ,đàn tranh .... ta lại ngỡ mình đang sống nơi quê nhà ...

Bài “Mưa rơi” của Ưng Lang -Thanh Trang

 Lớp người trẻ ngày nay có mấy ai biết đến bài hát “Mưa rơi” của Ưng Lang không nhỉ? “Trẻ” có nghĩa là bốn mươi lăm, năm mươi trở xuống.
 Mà cho dù không mấy ai biết đến đi nữa thì chắc chắn cũng chả phải do nơi lỗi của họ; vì nếu như các CD trên thị trường, các chương trình gọi là “Nhạc thính phòng”, các ca sĩ chỉ quen hát những “Mưa Sài Gòn mưa Hà-Nội” của Phạm Đình Chương (phổ thơ Hoàng Anh Tuấn; cả hai đều đã qua đời) và “Đuờng xa ướt mưa” của Đức Huy, chẳng hạn, thì làm sao người nghe người ta biết đến những giai điệu đẹp của một thời đã qua, tưởng chừng như lâu lắm! 
 Tuy cũng cần mở ngoặc để nêu sự thể là cả hai bài tôi vừa dẫn làm ví dụ đều là những bài có giá trị cả; và nếu chỉ đưa ra những bài ngang ngửa như thế thì còn nói mà làm gì. Chỉ phiền là người nghe vẫn cứ phải nghe những bài về mưa chả có ra làm sao cả! 
Đối với lớp người thích nghe ca hát thuộc cái lứa sáu mươi đổ lên thì hẳn nhiên bài hát “Mưa rơi” của Ưng Lang không lấy gì làm xa lạ! 
Ai khác sao không biết nhưng riêng tôi thì xưa giờ lúc nào cũng có thể nghe đi nghe lại cả chục lần trong một lúc bài “Mưa rơi” mà chả cảm thấy phiền hà gì hết!
 Nghe vào những hôm sắc trời ủ dột, mây đen kéo tới rồi cứ thế mưa rả rích trong đêm thì lại càng cảm thấy thấm thía; và cứ thế mà nhớ nhung đủ thứ chuyện xa chuyện xưa!Nhạc sĩ Ưng Lang năm nay, 2008, tám mươi chín tuổi. Xem danh tính, chẳng cần quen thì ta cũng đều biết ông là người xứ Huế, thuộc hàng danh gia vọng tộc! 
Tám mươi chín nhưng trông ông vẫn có khuôn mặt cân đối, đặc biệt thanh lịch.
 Giọng nói vẫn còn âm sắc rõ ràng. Đủ biết là xưa kia ông đẹp giai và hấp dẫn đối với đám nữ lưu xứ Huế cỡ nào!Gặp ông, tôi nhắc lại bài “Mưa rơi” và bài “Chiều tiễn biệt” mà xưa kia người ta đã từng đưa vào bộ phim Việt Nam ở Sài Gòn vào cái thời cuối thập niên 50. Thường thì bao giờ gặp gỡ những vị như thế này tôi đều một mực kính cẩn và tri ân. 
Không có các vi ấy thì xưa kia hồi còn nhỏ tôi đã chẳng đuợc nghe những giai điệu đẹp đẽ của các vị để rồi từ đó yêu thích âm nhạc! 
Ai trong giới sáng tác bất cứ bộ môn gì mà làm ra cái kiểu như “tài năng” của mình là do ”trời phú”, chả có rau Mơ rễ Má gì với giống người thì tôi đồ chừng là trước sau cũng chả làm nên cơm cháo gì!
Tôi còn nhớ khi đề cập đến bài “Mưa rơi” thì tôi có tò mò hỏi thăm đôi điều và đuợc ông dẫn giải về “lai lịch” của nó như sau:
 - Thưa Chú, nguyên lai gì dẫn đến bài “Mưa rơi” ?
- Ấy là năm 45. Tôi đang làm việc ở Vinh, ngoài Thanh Hóa, vì nghề của tôi là Kỹ Sư Công Chánh.
- Dạ?
- Thế rồi tôi quen cô ấy!
- Chú cho cháu biết danh tính đuợc chăng?
- Tên là XX (*) ; mẹ của YY (**) về sau này.
- Tức là nữ ca sĩ YY?
- Đúng rồi!
- Kiểu như lời lẽ trong bài hát thì sau đấy hai người xa nhau?
- Đúng rồi! Hỏi xong thì tôi mới sực thấy mình là ngớ ngẩn! Đôi bên ngày đó không xa nhau thì người ta đã thành vợ ông rồi còn gì? Mà đã lấy đuợc nhau thì dễ gì có bài hát? Đã lấy đuợc nhau thì làm gì lại có chuyện :”Ai đi, như xóa bao lời thề? Thuyền theo nước trôi không về.. Thấu cùng lòng ai não nề nơi chốn phòng khuê ? Mưa rơi …” (***)- Thế rồi về sau Chú có gặp lại người ta?
- Có! Có gặp lại, nhưng rồi người ta cũng đã qua đời!
- Chú ở lại Vinh cho đến năm nào?
- Nhật nó đảo chánh một cái là tôi trở về Huế!
- Chú ở Huế đuợc bao lâu?
- Sau đảo chánh năm 63 thì tôi vào Sài Gòn!
- Vậy thì khi người ta đưa bài hát “Chiều tiễn biệt” vào phim xi-nê tức là Chú viết bài đó ngoài Huế?
- Đúng rồi!Bài “Mưa rơi” nó hay ở chỗ nào?


 Nó hay ở giai điệu cùng lời lẽ theo phong cách của thời “Tiền chiến”. Nó hay và đẹp ở chỗ nó rất giản dị. Tôi còn nhớ lời của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn”Khi mới bắt đầu sáng tác thì tôi cứ tìm cách làm sao cho cầu kỳ phức tạp, sao cho “lạ”, thế nhưng càng về sau, càng có kinh nghiệm rồi thì tôi thấy rằng làm thế nào cho hay mà giản dị thì mới là điều khó!”
 Thì chứ còn gì nữa!Chỉ cần một người biết đệm ghi-ta sơ sơ, từ đầu đến cuối bài “Mưa rơi” mà cứ bấm hợp âm “Re Trưởng”, một hai chỗ chêm vào hợp âm “Sol Trưởng” hoặc “La Trưởng bực 7” và thế là xong!
 Mà giai điệu của người ta hay thì vẫn cứ là hay! Chà cần gì phải làm ra cái kiểu “uyên bác”, ba hồi thì “augmenté”, ba hồi thì “diminúe”, ba hồi thì “6 è” hay là “9è”, nói theo tiếng Pháp, thì mới ra trò “đặc sắc”!
 Cứ xem những bức danh họa của Tàu khi xưa, có bao nhiêu màu sắc nếu không phải chì là mực Tàu nhưng ba hồi đậm, ba hồi nhạt; mà rồi danh họa thì vẫn là danh họa chứ việc gì cứ phải tô trát đủ thứ màu mè vào đấy?
Tôi đàn bài “Mưa rơi” như để trở về với những kỷ niệm của một thời rất xưa cũ đối với riêng mình.

                                         Thanh Trang 

                                          Xuân 2008
                            @@ tks ns Thanh Trang ,..ca khúc chủ đề mưa trong âm nhạc cả lời Việt hay nhạc ngoai quốc thật nhiều ,lyric và melody  nhiều cảm xúc càng nghe càng ghiền.....

Khám phá nét độc đáo huyền ảo của Thach Lâm


 Khi nói tới rừng chúng ta thường nghĩ tới một hệ động thực vật phong phú, tuy nhiên, tại Trung có một khu rừng chỉ gồm phần lớn là những khối đá vôi. Khu rừng này có tên Thạch Lâm, thuộc tỉnh Vân Nam, cách Côn Minh 85km về phía đông nam.
 Đây là một trong những thắng cảnh nổi tiếng, được mệnh danh là thiên hạ đệ nhất kỳ quan của Trung Quốc.Thạch Lâm từng là một vùng biển nông cách đây 270 triệu năm. Tuy nhiên, quá trình biến động của vỏ trái đất khiến mực nước biển giảm, những tảng đá vôi khổng lồ xuất hiện.
Trong thời kỳ này, các tầng đá dần dần bị bào mòn do sự lắng đọng và tiếp xúc với gió và dòng nước chảy tạo nên những rặng núi đá vôi hình dạng kỳ lạ và đặc sắc như hiện nay. Nó cũng lý giải cho sự tồn tại của dòng sông ngầm, hồ đá vôi, rừng đá vôi ngầm và những thắng cảnh kì vĩ khác nơi đây.
 Sự độc đáo của Thạch Lâm chính là những những tháp đá, cột đá, nhũ đá cho đến những tảng đá khổng lồ cao tới 30m được thiên nhiên sắp xếp thành những hình thù độc đáo như những thân cây hay các con thú, tạo nên một cánh rừng độc nhất vô nhị trên thế giới.
Thú vị hơn, ngày nay khu rừng còn là nơi sinh sống của loài vượn cáo Sifaka, vốn chỉ sống trên đảo Madagascar.Quần thể này đá này trải dài trên diện tích khoảng 350 km2. Sâu trong rừng đá, hàng chục hồ nước lớn nhỏ giống như chiếc gương sáng phản chiếu những dãy núi và ngọn núi chông chênh. Nhiệt độ trung bình ở rừng đá Thạch Lâm vào khoảng 16 độ C.
Có rất nhiều câu chuyện tình yêu thú vị về khu rừng tuyệt đẹp này.Có truyền thuyết kể rằng, rừng đá là nơi sinh của Ashima, một cô gái dân tộc Di xinh đẹp bị ngăn cấm kết hôn với người cô yêu. 
Vì thế, cô đã biến bản thân mình và khu rừng thành đá.Ngoài ra, một truyền thuyết khác cho rằng rừng đá gắn liền với câu chuyện tình yêu giữa nàng Asham, con gái của một nông nô nghèo và Ahei, một chàng trai trẻ khỏe, làm thuê cho chúa đất Azhi. 
Ahei là con nuôi của bố mẹ Asham.
Hai người lớn lên cùng nhau, dần yêu nhau và đi đến kết hôn.Họ sẽ sống hạnh phúc nếu như Azhi, người say đắm vẻ đẹp của Asham, không bắt cóc cô. Ahei vì giải cứu cho vợ đã giết chết Azhi. Sau đó để tránh bị sát hại, hai người đã chốn vào rừng đá và sinh sống tại đây.
 Họ đã sinh được 5 người con trai và con gái - tổ tiên của người Sani hiện nay, nhóm dân tộc thiểu số, đội khăn trên đầu và lưng đeo chiếc giỏ tre.
                                        
 Nam Ninh là thủ phủ của khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.Công viên Nam Hồ là một khu thắng cảnh được coi là viên Minh châu của thành phố. Bao quanh hồ là con đường dài 8,14km với cây xanh mát rượi, cầu Nam Hồ trông như một con rồng khổng lồ nằm ngang mặt hồ. Xung quanh công viên là những tòa nhà cao ngất trời điểm tô cho cảnh quan đô thị hiện đại.
Ở Nam Ninh, ít khách du lịch có thể bỏ qua công viên Thanh Tú Sơn, đây được coi là “viên ngọc xanh của thành phố” rộng tới 19 km2, là khu du lịch 4A quốc gia (Trung Quốc có 5 cấp tiêu chuẩn cho điểm du lịch, 5A là đứng đầu).
 Thanh Tú Sơn vừa có núi hùng vĩ, vừa có rừng cây tươi tốt, khí hậu ôn hòa.
Vé vào cửa 30 tệ , bạn có thể lên xe điện đi vòng quanh công viên, tham quan những vườn cây thiên tuế, chùa Quan Âm, Tháp Long Tượng, chùa Thái Lan, vườn rừng nhiệt đới, vườn hữu nghị ASEAN… mỗi năm công viên Thanh Tú Sơn đón tiếp khoảng hơn 1,2 triệu lượt du khách tới thăm quan.

Đến suối nước nóng Gia Hòa Thành, nhiều du khách thích thú ngâm mình cho những chú cá rỉa quanh người. Suối nước nóng tại đây nằm sâu dưới lòng đất 1.300 m, thuộc loại nước khoáng oxit silic có giá trị cao về điều trị bệnh.

                                                 tourist .net

Cười Từ Nhà Ra Phố

woa ngon quá aaaaaaaaaaaa
 tui  mệt thở rùi ông biết hông??Oh
                      làm eo với boss sao ta ?

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Người Mỹ bán bánh mì Việt

 
Một ổ bánh mì ngon phải hội đủ vị mặn, ngọt, chua và cay, với lớp vỏ ngoài là bánh vàng giòn, một người Mỹ là chủ hiệu bánh mới mở vài tuần nhưng rất đắt hàng ở Mỹ, hoan hỉ cho biết.Bánh mì Lone Wolf mở ra ở Tulsa, Oklahoma, vài tuần nay, và đêm nào họ cũng bán hết veo trong khi khách vẫn còn hỏi mua thêm nữa.
 Cơn sốt bánh mì kiểu Việt Nam đang lan khắp nước Mỹ, đến mức nó được nhắc đến với tên bằng tiếng Việt, như "tiền bối" phở vậy, "banh mi".

                                      
 Tại thành phố Oklahoma, nhiều hàng bánh đã xuất hiện trong mấy năm gần đây, còn ở Tulsa, thì Lone Wolf gần như là hiệu bánh đầu tiên.
Trước khi bắt tay vào kinh doanh, hai người chủ hiệu là Phillips và Danielle Admire đã tìm hiểu thật kỹ lưỡng. Phillips có kinh nghiệm nấu ăn ở các nhà hàng Á, và trong một chuyến đi tới san Diego, họ đã ăn thử thật nhiều loại bánh mì."Chúng có vị giống như những gì tôi sẽ nấu cho gia đình mình ăn tối", Philiips nói về tiêu chuẩn lựa chọn những món anh sẽ làm cho thực khách.
Cuối cùng đôi vợ chồng sắp cưới chọn bán bánh, và mục tiêu chinh phục đầu tiên của họ là bánh mì, theo Tulsa World.
"Chúng tôi nghĩ, sẽ là điều tuyệt vời nếu mỗi khi bạn ăn xong, dư vị bánh vẫn còn trong miệng.
 Sẽ không giống như khi bạn mua một chiếc bánh kẹp to tướng ăn kèm khoai tây", đầu bếp Á nói. "Tuyệt nhất là bạn sẽ thấy sung sức sau mỗi khi thưởng thức, và đó chính là lý do vì sao chúng tôi chọn bán bánh mì".
Theo Phillips, một trong những thành phần quan trọng nhất của món này là vỏ bánh baguette. Hai vợ chồng đã may mắn kiếm được một hàng bánh tốt ở địa phương.
 "Đó là loại bánh dài và giòn, vỏ bên ngoài được nướng vàng lên và bên trong thì êm và xốp", chủ hiệu nướng bánh nói.
Trong món bánh mì của Philips có thịt heo, rau thơm, cà rốt, tỏi, sốt chua ngọt, hành, dầu vừng và một số gia vị nữa.
 Anh cũng bán cả bánh mì thịt gà và một vài biến thể khác.
Philips sẽ bán bánh mì trên xe tải ở các lễ hội ẩm thực và chợ cuối tuần. Anh nói rằng thưởng thức các món ăn kiểu đó là "cách để bạn thực sự nếm trải hương vị địa phương".

~~~~~~~Katie Tran ~~~~~~
                 @@@khi còn ở Saigon hay ăn bánh mì jambon Như lan khu Chợ cũ ,Hàm nghi ,qua xứ người có bánh mì Ba lẹ, Lee'sandwich .. Cly thích nhất ổ bánh mì baguete nóng dòn ăn kèm pate thơm ngon và ly coffee mocha bên cạnh nhất là khi trời lành lạnh

Thăm nhà đạo diễn Chánh Tín -Quang Dũng


Đọc lại thơ Nguyên Sa


Một bữa, tình cờ nghe lại cuốn băng cassette phỏng vấn nhà thơ Nguyên Sa của tôi và Lê Ngọc Ngoạn. Âm thanh ấy, ý tình ấy, vẫn còn. Nhưng, người trả lời phỏng vấn thì đã đi xa rồi, mất biệt. 
Tự nhiên, thấy thời gian qua quá nhanh và cuộc đời sao mà ngắn. Mới ngày nào, bây giờ đã mười năm. Lúc ấy, và bây giờ sao khoảng cách, vời vợi… Mới đó, mà đã thành kỷ niệm. Mới đó, mà đã xanh rì nấm mộ... Mới đó, mà đã ngút mắt thời gian.
 Tiếng nói, giọng cười như hiển hiện một ngày nào, xa rồi nhưng tưởng như của thuở nào, gần gũi.Nhà thơ Đinh Hùng, trước nay hơn nửa thế kỷ dường như cùng chung một tâm cảm. Khi nghĩ đến những người cầm bút chung mang nghiệp dĩ đã qua đời, ông tưởng như họ vẫn còn sống và chữ nghĩa văn chương còn hiển hiện trên đời.



 Bài vào tập của tác phẩm được in sau khi ông qua đời như một kỷ vật để lại, Đốt Lò Hương Cũ, ông viết:“…Những văn nghệ sĩ đã khuất bóng - "những người không bao giờ chết" đó - mỗi người giờ đây chỉ còn là một ý niệm, mỗi tên tuổi đọc lên chỉ còn là một ý niệm, mỗi tên tuổi đọc lên chỉ còn là vọng âm, mỗi gương mặt nhớ lại chỉ còn là một màu khói hương phảng phất.
 Nhưng hương khói kia bởi vì huyền ảo cho nên không bao giờ phai; vọng âm kia bởi vì vô ảnh vô hình cho nên không bao giờ tiêu tán, và ý niệm kia, bởi vì chỉ là ý niệm cho nên không bao giờ bị hủy diệt...Chúng ta, những người đang sống hôm nay, những người chưa từng đặt bước vào cõi chết và cũng chưa đi tới chặng đường cuối cùng của cuộc sống, chúng ta sẽ cách biệt với họ biết chừng nào, nếu không còn lại đây một chút phản hồn trên vài trang sách cũ, một chút vang bóng trên vài nét bút xưa, một thoáng nghi dung qua nhiều kỷ niệm...
 Những linh hồn ở bên kia trần lụy hình như bao giờ cũng sẳn sàng dành cho chúng ta những cam tình tri ngộ trân trọng và quý báu hơn cả những người bạn thâm giao ở cõi trần gian…”Tôi nhớ, khi còn sống, Nguyên Sa rất thích thơ Đinh Hùng. Ông nhắc nhiều đến những bài thơ tượng trưng và cho đó là những châu ngọc của thi ca Việt Nam. 
Tủ sách Tác Giả và Tác Phẩm của nhà xuất bản Đời do ông chủ trương đã in Đinh Hùng: Tác Giả Tác Phẩm như một quyển sách đầu tiên về loạt sách có chủ đề này.

Bây giờ, nhà thơ Đinh Hùng khuất bóng đã lâu nhưng những trang thơ cũ, vài nét vẽ xưa, hay thoáng nghi dung kỷ niệm vẫn còn tồn tại. Nhà thơ Nguyên Sa mới vừa lìa trần vài năm nhưng vẫn được nhắc nhở tới tưởng như khi vẫn còn trên dương thế. Những bài thơ cũ vẫn được in lại, trang sách mới tinh còn thơm mùi mực.


 Những bài phổ nhạc, vẫn còn làm xao xuyến lòng người. Và, vượt qua bức tường thiên kiến chính trị, thơ Nguyên Sa vẫn được phổ biến trong nước như là một đỉnh cao của thi ca Việt Nam thế kỷ 20. Dù rằng ông được chính quyền trong nước liệt kê vào danh sách những người chống Cộng cho đến lúc cuối đời.
Tháng Tư, năm nay trời có những lúc đổi gió. Buổi Sáng, nắng chan hòa những buổi trưa, buổi chiều thì trời trĩu nặng mầu mây đục. Gió ở biển thổi vào, lạnh lạnh trong cái gai gai nhắc nhở một điều gì thầm kín, khó ngỏ. 

Trời và đất, nắng và gió, biển và người như có một chút gì đồng dạng, một chút gì như xa vắng lắm nhưng gần gũi. Tôi chập chờn trong tâm thức ấy. Chẳng hiểu vì sao, có nhà thơ tiền chiến đã tự hỏi.
 Nhưng riêng tôi, tôi biết. Vì đã đọc nhũng câu thơ, để nhớ về và sống lại. Một thời gian nào. Một không gian nào.
 Thật quen thuộc và cũng thật xa lạ. Tôi đọc thơ Nguyên Sa. Hôm nay...Có những bài thơ, viết khi còn sống để tưởng tượng về cõi chết.
 Cách nay mấy chục năm, khi thi sĩ là một thanh niên yêu đời nhiều sinh lực, ông đã viết một bài thơ nhan đề lúc chết. Những câu thơ như sửa soạn cho một chuyến trở về mà ai cũng phải có một lần trong đời.
 Những mô tả cho chuyến hành trình miên viễn ấy dường như viết quá sớm. 
Thi sĩ dường như là loại người có nhiều tương phản nhất. Khi vui lại khóc, buồn tênh lại cười, có phải thế chăng? Mấy chục năm sau, có người đọc lại, cho rằng có khi là những tiên tri?! 
Thơ viết ở Sài Gòn, ở những thập niên 60, 70 sao như viết ở Orange County những năm cuối thế kỷ 20?Tưởng tượng, ở một cõi khác, người thơ lắng nghe từng giọt giọt nhân sinh. Đã có câu hỏi cho người yêu, người tình, người vợ. Ở trên ấy mây mùa thu có lạnh. Anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời. Em có ngồi mà nghe gió thu phai. Và em có thắp hương bằng mắt sáng? 
Câu hỏi rất thơ và cũng rất... 
 Nguyên Sa. Cũng những ngôn ngữ tương tự như thế để hỏi người yêu. Paris có gì lạ không em? Hay: Có phải em về đêm nay? Hay: Tôi đưa người hay người đưa tôi? 
Toàn là nghi vấn trong sự khẳng định. Hỏi để mà hỏi chứ đã sẵn những câu trả lời. Tôi biết người thơ của ông, cô Nga, của bài thơ tình đặc biệt được in thành thiệp hồng “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm. Như con mèo ngái ngủ trên tay anh. Để mắt cá ươn như sắp sửa se mình 
Để anh giận sao chả là nước biển...”, mỗi ngày, mỗi tuần đều đến ngôi mộ của ông để nhớ về một hình bóng đã khởi hành đi xa nhưng còn quyến luyến trần thế. Nơi ông an nghỉ có cỏ xanh và bóng mát, có những chú chim ríu rít trong nắng, có những chiếc lá vàng rụng theo nắng phai có mầu nước hồ lóng lánh dáng mây trời. Và nhất là có những người ông thân yêu mỗi ngày mỗi tuần đến để chia sẻ những giấc mơ, những nỗi niềm..
.Tôi biết Nguyên Sa có rất nhiều bài thơ tuyệt tác. Như Áo Lụa Hà Đông, như Tám Phố Saigon, như Paris Có Gì Lạ Không Em?, như Cần Thiết, như Tuổi Mười Ba, như Tiễn Biệt,… và nhiều bài khác nữa như nhiều nhà phê bình gọi là “những tặng vật bắt được của trời". Thế mà tại sao tôi lại đọc bài thơ này? 

Bài Lúc Chết. Mà không phải những bài thơ kể trên. Có phải vì ngày 18 Tháng Tư mỗi năm là ngay giỗ của ông. 
 Thỉnh thoảng, bọn chúng tôi, những đứa có dịp gần gũi thân cận ông thuở sinh tiền cũng vào nghĩa trang để thăm viếng ông nhưng nhất định, mỗi năm cứ vào ngày này cả bọn đều đủ mặt. Năm ngoái, Trần Thắng đã ngồi đọc trước mộ ông những bài viết của nhiều người tưởng niệm trước mặt chúng tôi. Chắc ông có nghe và sẽ mỉm cười. Nụ cười mà cả bọn cho là “dễ thương” nhất. 
Ô! Tụi học trò phá phách ấy còn nhớ đến mình sao?Bài viết này, như một nụ hoa hay một nén nhang gửi đến nhà thơ tuy đã đi xa nhưng còn gần cận với chúng tôi, những người yêu thi ca như yêu quê mẹ . . .
                                 NGUYỄN MẠNH TRINH


                   @@  là fan của thơ nên mê thơ tình cả tiền chiền lẫn hiện đại ,thơ Nguyên Sa phổ nhạc thật  tuyệt vời lứa tuổi nào nghe cũng vẫn rung động và hoài niệm về quá khứ vàng son