Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Cổ tích về 5 chị em gái xinh đẹp ở Sài thành

Gia đình họ Pang có bảy chị em, trong đó năm chị em gái lần lượt gồm Pang Mỹ Linh, Pang Lệ Thanh, Pang Mỹ Hạnh, Pang Lệ Phối, Pang Mỹ Nguyên.
Mỹ Linh (sinh năm 1980) (ảnh) từng đoạt giải Nhất Cuộc thi trang trí móng tay tại Nhà Văn hóa Phụ nữ năm 2004, giải Topten Nail châu Á 2007 tại Osaka (Nhật), giải Nhất Nail châu Á 2008 tại Malaysia. 
Cô em gái Mỹ Nguyên (sinh năm 1987) cũng đoạt giải Nhất Nail châu Á 2009 tại Singrapore, bằng khen Công dân trẻ tiêu biểu Saigon 2009 và 2011, chứng nhận Người thợ trẻ giỏi toàn quốc 2011.
Chuyện cổ tích viết ngược
Cô chị cả Mỹ Linh nhớ lại những ngày 16 tuổi, lúc gia đình gặp biến cố đầu tiên vì công việc kinh doanh của ba má bị phá sản: “Khi ấy, chính lời ca tiếng hát đã giúp tôi vô tư sống tiếp và phụ giúp gia đình, hình thành một phần tính cách chịu thương, chịu khó”.
 Từng có thời, chị em nhà Pang đi qua chơi bất kỳ nhà nào trong xóm cũng đều được mọi người cưng chiều, nể nang nhưng chớp mắt, tất cả gia sản phải bán tống bán tháo để trả nợ kinh doanh thua lỗ.
 Từ một cô tiểu thư quen nhà cao cửa rộng phải từ bỏ chốn sang giàu, đi bán bánh bao rồi phục vụ bàn trong quán hủ tíu của ba má, Mỹ Linh như một princesse  trở về với đời sống Lọ Lem.
Ước mơ thi vào ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn cùng CĐ Sân khấu Điện ảnh của Mỹ Linh cũng đành tạm gác sang một bên, bởi nỗi lo canh cánh trong lòng: “Mình là chị lớn trong nhà, phải đỡ đần ba má, vả lại còn đàn em nhỏ...”
. Nhưng chưa bao giờ, cô nghĩ đó là một sự hy sinh. Đến tận giờ, trong ánh mắt của người chị cả vẫn hiện lên niềm vui khi nhắc về chuyện cũ, kèm câu nói chắc nịch: “Chưa bao giờ hối hận. Biết đâu nhờ biến cố ấy mà đời Linh rẽ sang hướng khác”.
Cũng từ những kinh nghiệm sân khấu mà Mỹ Linh đã quen với việc trang điểm và rất hứng thú làm công việc này, theo cách nói của cô: “Con gái mà, ai chẳng thích làm đẹp và làm điệu” (cười). 
Thế nên, cô chị cả quyết định mở một cửa tiệm nhỏ chuyên về trang điểm, làm tóc và chăm sóc móng vào năm 2003 để kiếm thêm thu nhập bên cạnh quán hủ tíu của ba má
. Thời ấy, nghề làm móng ở Việt Nam chỉ gói gọn trong việc cắt da, sơn móng và hình ảnh của người thợ cũng không được đánh giá cao. 
 Cùng năm đó, khi có dịp sang Thái Lan, nơi nghề vẽ móng nghệ thuật đang rất thịnh hành, Mỹ Linh quyết tâm thay đổi nhận thức của mọi người bằng việc phát triển tiệm nhỏ thành một trung tâm đào tạo nghề chăm sóc móng chuyên nghiệp.
Với giải Nhất Trang trí móng tay của Nhà Văn hóa Phụ nữ (8/3/2004), Mỹ Linh đã có cơ hội phát triển sâu rộng trong lĩnh vực này.
 Cô sang Nhật trau dồi thêm tay nghề vì đất nước này được đánh giá là chuyên nghiệp nhất về trang trí móng.
 Những chuyến đi này tạo điều kiện cho cô chủ Kelly Pang lọt vào Top 10 Nail châu Á tổ chức tại Osaka (Nhật) vào năm 2007. Liên tiếp các năm sau đó, những cúp vàng giải Nhất Cuộc thi Nail châu Á tại Malaysia năm 2008 và Singapore năm 2009 đều nằm gọn trong tủ kính văn phòng của Kelly Pang.
Từ một nghề ban đầu để kiếm sống, các chị em từng bước khai phá những tiềm năng bỏ ngỏ trong lĩnh vực này tại Việt Nam để nâng tầm nó thành một ngành nghệ thuật.
 Hình ảnh cắt da, sơn móng đơn thuần đã trở thành một môn hội họa đầy sáng tạo, bằng chứng là cô em út Mỹ Nguyên đã nghĩ ra ý tưởng vẽ trang trí móng bằng kỹ thuật 3D sống động như ảnh chụp hoặc hình vẽ hoạt họa có màu sắc rõ nét như in màu trên tay.
Trên hết, Mỹ Linh đã gầy dựng được một cơ ngơi cho chị em cùng san sẻ, đỡ đần. Ban đầu, chỉ có một mình chị cả theo nghề này, rồi dần dà, Lệ Thanh, Mỹ Hạnh lớn lên cũng chung tay phụ giúp và sau này là Lệ Phối, Mỹ Nguyên... mỗi người một vẻ để cùng hoàn thiện công việc kinh doanh. Mỹ Linh hay nói với má rằng: “Má đẻ 5 đứa con gái mỗi người một tính, cứ tưởng bất đồng quan điểm sẽ khó làm việc chung, ai dè lại bổ trợ được cho nhau”.
 Việc nhiều đến mấy nhưng hễ khi rảnh rỗi, năm chị em “bà chủ” này lại dẫn nhau đi hát karaoke và tranh giành micro như một sở thích thời niên thiếu, dẫu bây giờ cô chị cả cũng đã là má của hai con nhỏ và cô em út đang chuẩn bị kết hôn.
- Ngay từ nhỏ, má đã cho 5 chị em ngủ chung một mùng nên tình chị em lúc nào cũng gắn bó, khắng khít. Đến khi gia đình gặp biến cố, niềm vui lại càng đặc biệt hơn, bây giờ mỗi lần nhớ lại đều thấy hạnh phúc. 
 Gia đình họ Pang có bảy chị em, trong đó năm chị em gái lần lượt gồm Pang Mỹ Linh, Pang Lệ Thanh, Pang Mỹ Hạnh, Pang Lệ Phối, Pang Mỹ Nguyên.
Bạn bè kinh doanh hục hặc có thể không nhìn mặt nhau nhưng với chị em dù giận nhau cũng không thể quá một ngày, chỉ cần ngồi xuống ăn chung bữa cơm gia đình là bao mâu thuẫn mất hết. Dĩ nhiên trong công việc, mỗi người đều có sở trường riêng để phân bố trách nhiệm hợp lý. 
Ai cũng sẽ nêu chính kiến nên đôi lúc cần tranh luận, bảo vệ lập trường. Nhưng may mắn là nếu năm chị em không tìm được sự đồng thuận thì luôn có một “cán cân” công bằng nhất là mời má vô phân xử (cười).
- Ngày xưa má có ngăn cản khi thấy chị dấn thân theo nghề làm móng?
- Má luôn là người vun đắp nên tính cách của năm chị em và hướng chúng tôi đi theo con đường đúng dù ngay trong hoàn cảnh khó khăn.
 Đúng là hơn mười năm trước, nhiều người vẫn giữ cái nhìn định kiến về “nghề làm móng”, thậm chí chê trách, ngăn cản, nhưng tôi quan niệm đường chưa ai đi thì mình mới cần phải khai phá. Khi ra nước ngoài tiếp xúc với ngành trang trí móng chuyên nghiệp, tôi mới thấy có rất nhiều cơ hội phát triển ở lĩnh vực này.

 Nghe các chị kể từ nhỏ, Mỹ Nguyên đã khéo tay thích vẽ, sao chị không chọn học kiến trúc, mỹ thuật... mà lại đi theo nghề làm móng?
 
- Từ bé, cứ đọc truyện tranh xong tôi lại hý hoáy vẽ y chang. Khi tốt nghiệp lớp 12, các chị định hướng giúp tôi nhiều con đường để lựa chọn, trong đó có việc trở thành nhà thiết kế hoặc thi vào Đại học Kiến trúc. Nhưng rốt cuộc, tôi quyết định theo nghề của chị Mỹ Linh, chị cũng là người hướng dẫn tôi những nét vẽ đầu tiên. 
Tôi nghĩ mình làm việc gì có sự động viên, hậu thuẫn của gia đình thì sẽ thành công hơn khi chọn con đường tự mình đi. Nhìn các mẫu vẽ trang trí trên móng tinh xảo của chị Linh rồi tôi sáng tạo, thiết kế thành nhiều kiểu dáng riêng, mới lạ. 
Mới đây, tôi cũng vừa tỉ mẫn ngồi vẽ thành công bộ móng hình ảnh 3D, có thể nói là tác phẩm đầu tiên tại Việt Nam.
- Chị có nghĩ mình bị áp đặt theo lề lối gia đình và thích sự an toàn nên không dám vươn ra ngoài xã hội?
- Là con gái, lại thích vẽ vời, mơ mộng nên tôi rất đa cảm và cần cảm giác an toàn. 
Có điều khi ấy, tôi nhìn tấm gương thành công của chị Linh nên rất tự hào để theo con đường giống vậy chứ không phải áp đặt (cười).
- Có bao giờ chị tiếc nuối vì không có một tấm bằng đại học đàng hoàng?
- Từ khi cầm cây cọ vẽ đến nay đã chín năm nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ mình đã bỏ lỡ cơ hội nào. 
Vì mình còn trẻ nên có nhiều lựa chọn, cứ thành công ở đây rồi sau này chọn thêm ngành khác cũng đâu có muộn.
 .....Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là phải làm đúng theo sở trường và năng lực bản thân, chứ đừng chạy theo phong trào.

                                        Theo Mốt và Cuộc sống
                                   @@ wow , bravo Pang's family !

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

Bài học tuyệt vời từ ngỗng trời


Vào mùa thu, khi thấy đàn ngỗng bay về phương Nam để tránh đông theo hình chữ V, bạn có tự hỏi những nguyên nhân khoa học nào cho kiểu bay này?
 Mỗi khi một con ngỗng vỗ cánh, nó tạo ra một lực đẩy cho con ngỗng bay sau nó. 
Bằng cách bay theo hình chữ V, đàn ngỗng tiết kiệm được 71% sức lực so với khi bay từng con một.
 Khi là thành viên của một nhóm, cùng chia sẻ những mục tiêu chung, ta sẽ đi đến nói ta muốn nhanh hơn và dễ dàng hơn, vì ta đang đi dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau.
Mỗi khi con ngỗng bay lạc khỏi đội hình chữ V, nó nhanh chóng cảm thấy sức nặng và những khó khăn của việc bay một mình để rồi nhanh chóng trở lại đàn và tận hưởng sức mạnh tập thể. 

Nếu chúng ta cũng cảm nhận sự tinh tế như loài ngỗng, ta sẽ chia sẻ thông tin với những người cùng mục tiêu như chúng ta.
Khi con ngỗng đầu đàn mệt mỏi, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cạnh và một con ngỗng khác sẽ dẫn đầu. Chia sẻ vị trí lãnh đạo sẽ đem lại lợi ích cho tất cả và những công việc khó khăn nên được thay phiên nhau đảm nhận.
Tiếng kêu của đàn ngỗng từ đằng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng. 
Những lời động viên tạo nên sức mạnh cho những người đang ở đầu con sóng, giúp họ giữ vững tốc độ, thay vì để họ mỗi ngày phải chịu đựng áp lực công việc và sự mệt mỏi triền miên.
Cuối cùng khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để cùng xuống với con ngỗng bị thương và bảo vệ nó.
 Chúng sẽ ở lại cho đến khi nào con ngỗng bị thương có thể bay lại được hoặc là chết và khi đó sẽ nhập vào một đàn khác và bay về phương Nam.
 Nếu ta có tinh thần của loài ngỗng, chúng ta sẽ sát cánh bên nhau khi có khó khăn.
Lần sau có cơ hội thấy một đàn ngỗng bay, bạn hãy nhớ rằng mình đang hưởng một đặc ân khi là thành viên của một nhóm.

                                                     Mint
                                        (dịch từ Academictips)         
                    

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

Vui Vui :Chê việc nấu nướng của bà xã ?


Ông Yuri Ticuic, 69 tuổi, ở Altai - Nga, đã giận dữ bỏ vào rừng sau khi gây gỗ với vợ vì món súp quá nguội. 
Tuy nhiên, hành động nông nổi lúc tâm trạng không bình thường của ông đã dẫn tới hậu quả khó tượng tượng nổi. Ông lạc trong rừng rậm buốt giá hơn 1 tháng ròng.
 Ông sống sót được nhờ ăn dâu rừng, cỏ khô, lá cây, quả dại và uống tuyết.
 May mắn, mới đây, một số người làm công tại nông trang trong khu vực đã tìm thấy ông Ticuic trong tình trạng gần như kiệt sức, chân không thể đi nổi.
Ông kể lại: “Sau khi ra khỏi nhà tôi cứ đi phăng phăng nhưng vài giờ sau tôi không biết mình đang ở đâu nữa và cùng chẳng biết đường về. 
Tôi nghĩ mình sắp chết rồi. Nhiệt độ xuống dưới 0 độ C và tôi yếu đi rất nhanh…
 Đến một ngày, tôi bỗng nghe thấy tiếng người, tôi liền kêu cứu và được họ đưa tới bệnh viện” - ông Yuri Ticuic nhớ lại.
Các bác sĩ cho biết ông Ticuic đã may mắn sống sót nhưng lo ngại về khả năng phải cắt bỏ đôi chân của ông. “Đôi chân bị tổn thương nặng do giá lạnh và khó có thể giữ lại được” - phát ngôn viên bệnh viện cho biết.
Ông Ticuic thành thật: “Dù chuyện gì xảy ra, đó cũng là lần cuối cùng tôi chê việc nấu nướng của bà xã. 
Giờ tôi nhận ra cái gì cũng ngon hơn cỏ khô hết...

                                               Thu Hằng
                                             (theo Daily Mail)
                                                                     

A reporter's love for a wounded people ( 1 PV Đức viết về Việt Nam ....)


A reporter's love for a wounded people

Cuốn sách Đức: "A reporter's love for a wounded people" của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết "foreword" và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:
Đoạn kết


Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng
Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng."

 Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng.
 Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

 Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. 
Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? 
Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?
Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. 


Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết.
 Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.
Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? 

Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?
 Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?
Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? 

Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. 

Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân."
 Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975.
 Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? 

Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không?
 Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? 
 Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không?
 Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.
Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). 

Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương.

 Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng.

 Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn.
 Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.
Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. 

Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).
Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. 

Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. 
Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

 Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? 
Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?

 Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. 

Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.
 Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. 
Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. 
Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). 
 Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả.
 Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua.

 Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). 
Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. 
Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"
Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."
Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. 

Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật.
 Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. 

 Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. 
Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.
Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả.

 Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.
   Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. 

Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.  
Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. 
Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai.
 Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội.
 Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa.
 Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. 
Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.
Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. 

Chỗ của tôi ở đâu bây giờ?
 Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

http://www.lienlacso3.info/index.php...ed-people.html

@@ many tks reporter !!

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

Cõi lặng ..



tôi đi vào cõi lặng
cõi lặng khép cửa
nhạc điệu nào chơi vơi
tàn phai rơi
nghe rạn nứt cuống họng
tiếng động nào trong tôi
chiều hoang phế tang thương
ru giấc mộng cũ
mặc cả thời điếu đổ
thực ảo đã sang ngang

gió cuốn những mảng tình vô ngại
rơi rụng trái sầu đông
biến mình thành vũng tối
của sa mạc ngủ quên rừng gió hú
màu trắng nắng xanh xao vàng cỏ úa
một chiều không có em
hoàng hôn hay hồn hoang màu tím huế trong tôi
những cụm khói chết cuốn theo rặng núi thở
mình co cúm đêm đen

tôi đi vào cõi lặng
trên bước đường tùng lộ
vọng động
cơn mê đời chưa tắt
khuất tất
thất thanh một tiếng vỡ
đám bụi mờ vây quanh

tôi đi vào cõi lặng
một trời đen thăm thẳm
không than không thở không tất cả . không!
cõi lặng có mình ên.

VÕ CÔNG LIÊM

 (ca.ab. mùa phụcsinh 4/2012)

Tại sao phụ nữ lại khóc?

Khi thấy họ khóc, hãy nói con yêu họ biết bao và nếu họ vẫn khóc, con hãy làm trái tim họ được bình yên.

Một cậu bé hỏi mẹ:

- Tại sao mẹ lại khóc?

Người mẹ đáp:

- Vì mẹ là một phụ nữ.

- Con không hiểu 
- Cậu bé thốt lên.

Người mẹ ôm chặt con và âu yếm:

- Con không bao giờ hiểu được, nhưng nó là như thế đấy...

Thời gian trôi đi, cậu bé lại hỏi cha:

- Tại sao mẹ lại khóc vậy cha?

- Tất cả phụ nữ đều như thế, con yêu ạ 
- người cha mỉm cười đáp.
Cậu bé lớn dần lên và khi trở thành một người đàn ông, anh vẫn thường tự hỏi: "Tại sao phụ nữ lại khóc?".

Cuối cùng anh tìm đến một nhà hiền triết. Nghe hỏi, nhà hiền triết ôn tồn nói: "Khi Thượng đế tạo ra người phụ nữ, người phải làm cho họ thật đặc sắc.
 Người làm cho đôi bờ vai họ cứng cáp để che chở được cả thế giới, đôi tay họ mát lành để che chở sự yêu thương, và người cho họ một sức mạnh tiềm ẩn để mang nặng đẻ đau.

Người cho họ một sự dũng cảm để nuôi dưỡng và chăm sóc gia đình, người thân, bạn bè ngay cả những lúc mọi người dường như buông trôi, và dù có nhọc nhằn đến mấy đi nữa họ không bao giờ than thở... 
Người cho họ tình cảm để họ yêu thương con cái ở mọi nghĩa trên đời, ngay cả những lúc con cái họ gây cho họ đau khổ.

Người cho họ sức mạnh để chăm sóc người chồng của họ, tránh vấp ngã vì người tạo dựng họ từ những xương sườn của người đàn ông để bảo vệ trái tim anh ta... 
Người cho họ sự khôn ngoan để biết rằng một người chồng tốt sẽ không bao giờ làm tổn thương vợ mình, hiểu rõ sự chịu đựng của người phụ nữ và cô ta luôn thấp thoáng sau mỗi thành công của người chồng.

Để làm được những việc nhọc nhằn đó, Người cũng đã cho họ giọt nước mắt để rơi, để họ sử dụng bất cứ lúc nào và đấy là điểm yếu duy nhất của họ. 
Khi con thấy họ khóc, hãy nói với họ con yêu họ biết bao và nếu họ vẫn khóc, con hãy làm trái tim họ được bình yên".

                                            Haley
                          (dịch từ Islamgreatreligion)
                          

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

Ngào ngạt hương đời

Trong số mấy người bạn của Hoa có chị Nguyệt là sành chuyện ăn diện son phấn hơn cả. Hoa là gái mới lớn còn Nguyệt đã già dặn chuyện đời, Hoa chỉ đáng mặt học trò, em út của chị Nguyệt.
 Hoa có thể ngồi yên hàng giờ lắng tai nghe Nguyệt thuyết giảng về nghệ thuật trang điểm, để, theo chị nói một cách không úp mở rằng:“ Làm bọn đàn ông, con trai chết mê chết mệt! ” Chị Nguyệt có khoa ăn nói, chị nói chuyện rất hấp dẫn và đề tài hay hơn cả là việc dùng mùi hương quyến rũ kẻ khác phái, cụ thể là việc sử dụng nước hoa. Theo chị, phụ nữ không thể thiếu nước hoa. 
Chị nói : “ Ngòai nhan sắc ra, còn cần phải thơm tho. Khi ngọn đèn ngủ tắt, ấy là lúc khứu giác làm việc. Mùi hương góp phần lớn trong hạnh phúc lứa đôi...” Nguyệt là người chuộng thực tế, chị không tin chuyện sách vở xưa nói, người đàn bà quí tướng thân thể tự phát ra mùi hương thiên phú.
 Dù có đi nữa, hạng nữ lưu này cũng chỉ muôn người có một. Nguyệt cũng không là người lãng mạn, chị nghi ngờ cái gọi là “mùi thơm da thịt trinh nữ” mà các nhà văn, nhà thơ tô vẽ, bày đặt ra, chuyện hão huyền, không thực tế. Phụ nữ bình thường ba ngày không tắm là có “vấn đề” ngay ! Ngày nay khoa học làm được nhiều điều kì diệu, hàng trăm, hàng ngàn mùi thơm, bắt chước thiên nhiên hay nhân tạo, tại sao không dùng nước hoa ?

Trước tiên Nguyệt dạy cách chọn, mua và dùng nước hoa, dùng sao cho quyến rũ và có “cá tính”. Chị ta có khoa sư phạm, nói và làm đi đôi. 

Chị tới bàn phấn lấy lọ nước hoa hiệu Chanel N’5, một hiệu nước hoa nổi tiếng và rất đắt tiền. Nguyệt bắt đầu chỉ cách thử:
- Cùng một lọai nước hoa nhưng mỗi người dùng nó tóat lên một mùi thơm khác ấy, bởi nước hoa còn phản ứng với da người dùng. Vì thế phải chọn lọai nào thích hợp với da thịt, nhan sắc, vóc dáng, tuổi tác mình. Nguyệt chấm một giọt lên lưng bàn tay mình, nói :
- Phải đợi vài phút cho chất cồn bay hết và nước hoa kịp phản ứng với da mình, sau đó mới ngửi.
Nguyệt đưa lên mũi mình rồi đưa cho Hoa ngửi, nói :
- Để hơi xa một tí, phảng phất thôi, đó, nghe chưa? Em ghi nhớ mùi hương ấy đi.
Rồi chị cũng làm như thế nhưng lần này với bàn tay Hoa. Xong rồi hỏi :
- Em có thấy cùng một lọai mà tay chị và tay em có hai mùi khác nhau không ?
Hoa chẳng thấy khác gì cả nhưng cũng nói cho chị ta vui lòng:
- Vâng, khác hẳn !
Nguyệt sung sướng:
- Đó mới là “ Cá tính “!
Nguyệt tiếp:
- Còn một điều này nữa, tối ư quan trọng. Người dùng nước hoa giống bọn sì ke ma túy, nghĩa là ngày càng phải tăng”đô” việc này ít người biết, thế nên rất nguy hiểm. Mũi mình quen nhưng người khác đâu quen.

 Nếu dùng nhiều đến mức mình nhận ra thì “Chết” cái lỗ mũi thiên hạ ! Nhất là mùa nắng, trong phòng chật chội, đông người. Bởi thế trước sau phải giữ nguyên một mức, mùi thơm phải thoang thỏang , “sắc sắc không không” mới tuyệt !
Chị Nguyệt bày cho cô gái mới lớn cách mở lọ nước hoa để trong tủ áo quần. Đến khi lấy ra dùng, mỗi bước đi quyến theo làn hương trong tà áo, thực là “Ấn tượng” !
Nguyệt khoe có lần ra phố, một người đàn ông đã vượt qua còn quay lại sững sờ cảm phục. Chắc lão ta nghĩ mình vừa được cái diễm phúc động chạm vào làn hương có thực mà như hư ảo giữa chốn trần ai đầy bụi bặm này !
Càng nói Nguyệt càng say sưa. Nhìn cảnh thuyết giảng này người ta dễ liên tưởng đến một vị trưởng lão, võ công cái thế đang truyền lại bí kiếp cho đệ tử mơi nhập môn.


 Nguyệt nằm ngửa trên giường, cổ kê gối, dưới có lót tấm nhựa không thấm nước, tóc chảy dài gần chấm đất. Dưới là một thau nước đầy, bốc khói, màu nâu nhạt hương bồ kết, có mấy cái vỏ chanh nổi lềnh bềnh. 
Con Sáu, người giúp việc, tay cầm gáo, tay kia luồn trong chân tóc chủ. Nó múc nước xối nhè nhẹ, cào da đầu cho chủ. Nguyệt nằm yên, mắt lim dim khoan khóai, nói :
- Mở ngăn kéo lấy chai Zest cho cô, chai Sunsilk nhạt lắm.
Con Sáu đi lấy dầu gội tóc, Nguyệt nằm lơ mơ nghĩ chuyện huê hụi. Sáu trở lại mở chai dầu, Nguyệt dặn :
- Tay chân làm cá xong phải rửa cho kĩ, dùng xà phòng bột, rửa đi rửa lại hai ba lần, lấy vỏ chanh bóp ra mà chà. Ngày trước làm gì có nhiều chất tẩy rửa như bây giờ . Mỗi lần làm cá xong cô phải dùng tro bếp rửa tay, nhất là cá sông, cá dìa, rửa bao nhiêu nước cũng còn tanh. Mình là dàn bà con gái phải thơm tho, bọn con trai mới thích.
Sáu nghe cô chủ nói, nó chỉ ừ hử cho qua chuyện. Lúc trưa làm cá xong nó đã rửa tay rồi, rửa bằng xà phòng cục. Nó chẳng hơi sức đâu rửa kỹ như cô nói, nó còn trăm công ngàn việc. Cô thì sạch sẽ quá mức, áo quần thay ra giặt ngay, chăn mền mỗi tuần mỗi giặt, nhà quét ngày ba lần. Được cái cô chủ thân thích gần gũi với nó. Có nhiều buổi trưa Nguyệt mất ngủ, không biết phải làm gì, hai cô cháu kéo nhau ra hiên ngồi bắt chí cho nhau. 

Đầu cô sạch lắm, da trắng bong không một chút gàu, tóc không một cái trứng chí.
 Hàng tuần cô đi tiệm uốn tóc, đội cái lồng sấy to tướng nóng hổi trên đầu cả tiếng đồng hồ, chí làm sao sống nổi ? Cô chưa có một sợi tóc bạc, nhưng cô lại muốn có bàn tay người khác mân mê da đầu. Tới phiên cô bắt chí cho con Sáu. Buổi chiều, ngòai hiên, gần cây khế ngọt, gió hiu hiu, hoa khế màu tím li ti rụng tơi bời. Sáu buồn ngủ lắm, nó chỉ muốn chui tọt vô bếp đánh một giấc. Nó phải ngồi yên, cúi đầu xỏa tóc cho cô bắt chí. Nó mơ màng nghe cô chủ dạy :
- Phải siêng gội đầu. Tóc mầy chua quá. Lấy chùm kết cô mua hồi tết nấu lên mà gội. Mùa hè ba ngày không gội, ai chịu nổi ? Đàn ông họ thích hôn hít mái tóc mình. Bọn nhà thơ gọi lá suối tóc, làn mây…Tóc mày như thế này, thằng nào dám động vào ?
Sáu ừ hử cho qua chuyện, Đến khi cô vào nhà, nó đứng lên, cổ mỏi nhừ. Nó vô nhà bếp ngủ một giấc, đến bốn giờ chiều cô thức nó dậy mua bún sứa chả tôm. 

Có đêm thầy đi đánh bạc khuya không về, cô sợ ma bảo con Sáu lên nằm chung. Nằm được một lúc Sáu nghe tiếng đồng hồ đỗ mười hai tiếng, Sáu làm lụng cả ngày mệt lắm, ngã lưng xuống là ngáy. Cô lay nó dậy, nói :
- Làm con gái phải cho “sảy” ngủ. Người khác động đến chân giường thì biết. Ngủ say như mầy chúng nó tới “mò” cũng không hay. Với lại tao nghe người mầy đầy mùi hành tiêu ớt tỏi. Phải siêng tắm rửa để cái mùi nước mắm hành tỏi dao thớt bay đi . Hôi hám như thế này thằng nào dám xáp lại gần? Lỡ ôm mầy hít phải cái “mùi nhà bếp” chúng nó chạy xa. Tao có lọ nước hoa cũ, tắm rửa sạch sẽ, tao cho.
Sáu không dám đụng đến nước hoa. Có lần nó về thăm quê, cô cho mượn cái áo cánh màu hoa cà, áo để mấy năm trong tủ không động đến vẫn ngát thơm. 

Mấy bà già dưới quê nói :“ Mới lên thành phố mấy tháng đã học cái thỏi đĩ thõa !”
Nguyệt không con, trong nhà có kẻ ăn người làm nên rỗi nhiều lắm. Chồng Nguyệt cũng ít có bạn bè tới lui thăm viếng. Chị ở nhà lay hoay mấy việc gội đầu, tắm rửa, làm móng tay, uốn tóc, son phấn, ra vào.Nguyệt nghĩ ra cho mình nhiều trò chơi, trong đó có trò trang điểm cô dâu. Nguyệt kêu con Sáu lên, bắt nó ngồi trước bàn phấn, trang điểm cho nó. Hôm nay chị biến nó thành cô dâu. Sáu mắc cỡ không dám nhìn bóng mình trong gương. Đang lúc đó chồng Nguyệt đi làm về. Nguyệt giữ chồng lại , hỏi :
- Trông có đẹp không ?
- đẹp lắm
- Em mở tiệm uốn tóc trang điểm cô dâu được không ?
- Được !
Chồng Ngụyệt tính bỏ đi, Nguyệt giữ lại, nói :
- Đứng lại đã, mới trang điểm làm tóc chớ chưa mặc xoa-rê.
Rồi Nguyệt tự nhiên cởi áo con Sáu ra, bên trong thấy cái nịt vú màu hồng nho nhỏ Nguyệt cho nó. Con Sáu mới dậy vú, mà ngực đã to, cái nịt vú của cô thì nhỏ không ôm trọn bộ ngực đứa con gái nhà quê. Sáu xấu hổ lắm cựa quậy. Nguyệt gắt :“ Ngồi yên ! rục rịch cái gì ?”

 Khi Nguyệt đứng lên mở tủ lấy áo thì con Sáu còn lúng túng hơn, nó thấy thầy đứng sau lưng nhìn chầm chầm hình nó trong gương.
Về sau Nguyệt mới biết trò chơi của mình là vô cùng tai hại.
 Có lần nửa khuya Nguyệt khát nước thức dậy, không thấy anh chồng nằm cạnh. Nguyệt kêu con Sáu rót nước, nó không lên. Nguyệt xuống bếp mở đèn, không thấy con Sáu nằm trên giường.
 Nhưng dưới chân giường còn lại hai đôi dép. Của con Sáu và của chồng .Nguyệt lên nhà cố dỗ giấc ngủ nhưng không làm sao ngủ lại được. Nguyệt không ghen tuông gì cả, cô chỉ tức bọn đàn ông, thực là một lũ ngốc. Bao nhiêu hiệu nước hoa thơm lừng không ưa, lại chui xuống bếp hít cái mùi nước mắm hành, tỏi, ớt, tiêu, gọi chung là “mùi nhà bếp”. Sau cùng nàng tự nhủ:” Mặc kệ cái lũ ngốc ! Hơi đâu mà tức …” Nhờ nghĩ thế nàng ngủ lại được. Ngủ một giấc ngon lành !

                                                                              Quý Thể 
                                                               @@ tks ,tks t/g QT !