Câu
chuyện bắt đầu cách đây hơn hai tuần rưỡi, sau khi cơn bão Sandy xảy ra,
Alex lên trang mạng xã hội Facebook cho biết về “Dự án h.o.p.e.fly” và
kêu gọi mọi người quyên góp áo lạnh cho nạn nhân. “Em nhớ hôm ấy là tối Chủ Nhật, sau khi gởi tin đi trên Facebook, em
nhận được sự hưởng ứng cấp kỳ! Tin cần áo lạnh cứ thế truyền đi khắp
nơi. Mọi người sẵn lòng giúp để em có thể đóng thùng gởi máy bay đi vào
ngày 18 Tháng Mười Một, em muốn đích thân đi trao cho những người vô gia
cư hay bị mất nơi cư ngụ,” Alex kể. Phía Tây nước Mỹ, Alex nhắm thâu áo ấm từ những người hảo tâm tại hai nơi là Los Angeles và Orange County. “Em thiết lập ba địa điểm để thâu nhận áo khoác, áo lạnh, jackets, áo
len, được đặt tại phòng tập thể dục J.A.M., trường dạy diễn xuất Aaron
Speiser Acting Studio ở West Hollywood, và Bella Vi Spa ở Fountain
Valley. Kết quả là em đã thâu được tổng cộng 6 thùng; ba thùng ở Los
Angeles và ba thùng ở Orange County,” người trẻ tuổi này vui vẻ nói. Về phía Ðông nước Mỹ, Alex móc nối và đặt được hai trạm nhận áo lạnh,
một ở Richmond, Virginia và một ở Philadelphia, Pennsylvania. Trong cả
hai địa điểm, những người tốt bụng có thể đóng góp cho nhu cầu ở New
York, vòng lên Washington, D.C. và khu vực phía Bắc Virginia với tàu
điện ngầm, nơi mà người dân địa phương cũng tiện góp phần cứu trợ. Cảm kích trước việc làm của người trẻ gốc Việt, hãng máy bay Virgin
America đã nhận bảo trợ 235 pounds cước phí của 6 thùng áo lạnh từ Los
Angeles đi cùng với Alex.“Mỗi thùng cân nặng khoảng 25 pounds, hãng máy bay đã giúp em không phải tốn $200-$250 tiền cước phí. May quá!” Khi hạ
cánh hôm Thứ Hai ở phi trường New York, người chị cả của Alex là bác sĩ
nội khoa sống ở Richmond, Virginia đến đón và cho biết kế hoạch ở miền
Ðông cũng đóng thêm được bốn thùng. Thế là ngày hôm sau, Alex, cùng
người chị và một người bạn thân tên Paul Cantor, 30 tuổi, từ Seatle,
Washington chất thùng lên xe Van và tới New York lúc 5 giờ 30 chiều. “Chúng em phải đi chở thêm bốn thùng đồ từ Manhattan đến tặng cơ quan
từ thiện Công Giáo (Catholic Charity) và The Mission Rescue NYC, nơi có
khoảng 200 người vô gia cư hay mất nhà tạm trú,” Alex kể. Dù khó nhọc nhưng Alex không thể quên những gì trải qua trong chuyến
đi cứu trợ, Alex nói: “Những người tạm trú đã hân hoan mở cửa đón chúng
em. Những người tình nguyện đã có mặt từ lúc nào. Họ xăn tay áo và giúp
khiêng những thùng áo lạnh vào trong cho mọi người kịp trước ngày lễ Tạ
Ơn.” Alex cho biết được sinh ra và lớn lên tại New York và dọn về Los
Angeles sau khi tốt nghiệp Ðại Học Virginia Commonwealth. Alex theo đuổi
ước mơ làm việc trong ngành phim ảnh và truyền hình. Người trẻ tuổi này
cho biết “Em từng đóng phim vai nguy hiểm ‘stunt’ trong các show truyền
hình như Entourage và những bộ phim như Pirates of the Caribbean, và
cùng xuất hiện bên tài tử Will Smith trong phim Hancock.” “Từ khi em lên năm tuổi, em biết chính xác những gì em muốn làm. Ðó
là đem mọi người lại với nhau, giải trí cho khán giả, và trả lại cho thế
giới này,” Alex Huỳnh, người trẻ sáng lập ra “Dự án h.o.p.e.fly,” nói. Chi tiết về “dự án h.o.p.e.fly” có tại website: www.alex-huynh.com. tks tks Alex. Huynh,good job !!
Một câu chuyện thật là cảm động
của một gia đình lao động xuất khẩu, sau đó xin tỵ nạn tại
Đức, người vợ được bảo lãnh sang sau, gia đình đổ vỡ vì người
vợ chê chông chậm chạp, thua kém người khác...bỏ chồng và con
để lấy chồng khác...Không rõ tên tác giả, chỉ thấy đề tắt là
TN. Anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính
của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu
gắt, ông lại bán xe rồi hay sao mà lại đi tàu lên đây.Anh cúi
đầu trả lời lý nhí trong sự hổ thẹn, ừ, bán rồi, vì cũng không có nhu
cầu lắm. Chị sầm mặt xuống, ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không thể
ngóc đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy? Khó khăn lắm
anh mới có thể nói với chị điều anh muốn nhờ cậy. Chị cũng khó khăn lắm
mới có thể trả lời từ chối anh, nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu
đưa con bé về e rằng sẽ chẳng còn được bình yên. Anh năn nỉ,
nhưng thật sự là anh rất bối rối, con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn
ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ
cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng
được, em là phụ nữ, em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một
thời gian, để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh
lại đón nó về.
Chị thở dài, ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến
cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã,
có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau. Anh nhìn chị với ánh mắt
đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi tiễn chị ra xe rồi
thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.Anh và
chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi
lao động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây xin tị nạn. Chị tốt
nghiệp Đại học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ
vẫn liên lạc và chờ đợi nhau. Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.Vừa
sang Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt. Đa số ai cũng có nhà hàng,
hay cửa tiệm buôn bán. Chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho
người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị
không hiểu, để có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được
đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Nên không dám mạo
hiểm ra làm ăn"Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng...", đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà. Khi
bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh.
Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con
cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ.
Anh ngậm đắng nuốt
cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho
tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói
đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến
thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.Bé
Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận
bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con
bé quấn quít bố hơn mẹ.Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.Thành
phố Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị
cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên
phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về
Hamburg sinh sống.Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh
thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay
noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều năm, nếu có thời gian, chị
còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ giáng sinh nữa.Thấm
thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ.
Tuy chị không
biết cụ thể thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền
hẩm hiu, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong
giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh
cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn
chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh
hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt
trong nhà. Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với
chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với
vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm
thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.Vợ
chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị
đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà.
Con bé tự đi đến trường và tự về được.Đi học về, nó cứ thui thủi
một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố dượng nó
rất ít khi quan tâm đến nó.
Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại
của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ
nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho
nó nghe.Em trai nó học thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn
Piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng
nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có
hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm,..
đàn..đàn...klavia....con muốn... Anh thở dài và hát cho nó nghe. Tháng
đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần,
thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng
đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không
đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó dở chứng. Một đêm, chị bỗng
bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng
khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì
thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng
tượng nổi là con bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã
có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô
giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng
chị nên chị không quan tâm Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì.Chị
sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là
hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: "... Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già
với bao sầu lo...sống với cha êm như làn mây trắng...nhớ đến năm xưa còn
bé, đêm đêm về cha hôn chúng con....với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha
già đi cha biết không...". Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ
níu, ôm nó vào lòng.
Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay
mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó
khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó
hỏi, con sao vậy hả con yêu của mẹ. Nó ngước nhìn mẹ nó rất trìu mến rồi
chìa cho mẹ nó một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.Chị
cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con
bị ung thư lâu chưa. Nó chìa 4 ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, 4
tháng rồi hả. Nó gật đầu.Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài. Con
bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng
nói vừa ra hiệu cho mẹ.
Đại ý là nó diễn đạt rằng: -" Bố lên ở trên
Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới
Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm
phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra
đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.." Chị cũng ôm nó
vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu
mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con vềHamburg.... Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi
thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn
và hát bài hát "Người Cha Yêu Dấu" bằng tiếng Việt trước, sau đó mới
chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi
mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện
như vậy. Tn @@ tks t/g !
Mỗi khi thấy một người ăn mặc không hợp nhãn với mình, chúng ta xì xèo: ông bà này ăn mặc kỳ dị không giống ai. Mỗi khi nghe nhắc tên một người nào đó không cùng quan điểm với mình, chúng ta lên án: ông ấy, bà ấy chẳng ra làm sao. Mỗi khi đọc một đoạn văn nào không hợp với niềm tin cá nhân chủ quan của mình, chúng ta phê phán ... Và
còn rất nhiều thứ khác nho nhỏ không thuận hợp với tư tưởng, suy nghĩ,
lối sống của chúng ta, cũng đã làm chúng ta phản ứng bực bội khó chịu. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta nhìn sự việc theo cách nhìn của con người, một tạo vật bất toàn nhiều khuyết điểm. Bởi vì chúng ta chỉ nhìn một góc cạnh, mà không nhìn xem mọi góc cạnh của sự việc hay của con người. Bởi vì chúng ta chỉ nghe được một phần nhỏ, mà không nghe được toàn thể của sự việc hay của con người. Bởi vì chúng ta thường quá chú ý đến phần bên ngoài, mà không chú ý đến phần bên trong của sự việc hay của con người.Bởi vì chúng ta đã cài đặt trong đầu óc chúng ta một thiên kiến. Phải thế này. Phải thế nọ. Người khác phải theo ý của chúng ta.Về cách xét đoán người, chúng ta đừng nhìn bề ngoài, nhưng hãy nhìn tâm hồn của người khác. Có những người ăn mặc sang trọng, phú quý, mà tâm hồn hèn hạ, nghèo nàn. Có những người nói năng lưu loát, ngọt ngào, nhưng tâm hồn rỗng tuếch, độc ác. Có những người nghèo khó, nhưng lại rất quảng đại. Có những người thiếu thốn, nhưng lại rất hạnh phúc. Có những người làm việc âm thầm trong góc bếp, nhưng lại là người làm được nhiều việc nhất. Có khi chính mình tự nghĩ là đạo đức thánh thiện lắm, nhưng lại là người xấu xa tội lỗi nhất. Thật khó mà suy đoán. Sông sâu còn có người dò Lòng người sâu thẳm ai đo cho cùng. Còn chúng ta cố gắng thay đổi cách sống của mình. Sống chân thành. Sống tốt lành. Không lừa lọc. Không gian dối. Sống khiêm nhường. Sống quảng đại. Không kiêu căng. Không nhỏ mọn. Sống hòa thuận. Sống tha thứ. Không bất hòa. Không lên án. Sống hiền lành. Sống cảm thông. Không hung dữ. Không khó khăn. Sống giản dị. Sống kiên nhẫn. Không xa hoa. Không nóng nảy. Sống nhân đạo. Sống vị tha. Không thù hằn. Không ích kỷ. Cuộc sống thật ngắn ngủi. Hãy tạo cho mình hạnh phúc, bình an. Xin thay đổi mấy câu của một tác giả kia: Hai cũng chấp, một cũng chấp, nửa cũng chấp. Chất chứa trong lòng chi cho khổ. Ngàn điều bỏ, trăm điều bỏ, một cũng bỏ. Thong dong thoải mái cho đời vui.
Nếu
không tinh ý khó mà cảm nhận được sự chuyển giao của đất trời. Sài Gòn
nắng và gió tiếp quản mùa Đông một cách âm thầm. Chỉ có lúc thật khuya
và sáng sớm mới cảm nhận được. Riêng đêm nay, đêm Giáng sinh mới chợt
nhận ra, mùa Đông đã về….Mùa Giáng sinh thực ra đã nhộn nhịp từ
cách đây cả tháng, không khí Noel phả cả vào tận các phòng học. Bọn học
trò đua nhau trang hoàng trên các lớp với những cây thông, dây kim
tuyến, ông già Noel treo lên các cửa sổ. Rồi các em lại lúi húi viết
viết vẽ vẽ, tíu tít trao nhau những tấm thiệp xanh đỏ đủ kiểu. Yêu
cái cảm giác hơi lành lạnh như đêm nay mà ở mùa khác không thể nào có
được. Đâu như Sài Gòn đang trở mình thật êm.
Ngồi trên khoảnh sân thượng
lặng ngắm những giò phong lan treo lủng lẳng, lấp loáng dưới ánh đèn
vàng hắt xuống…thấy lòng thật lạ… Màu thời gian nhuốm lên từng góc phố những mảng màu ưu tư trầm mặc. Bao hồi ức tưởng đã tan vào tháng năm nay khẽ trở mình… Thời
gian qua, Đông tới hình như càng ngày càng có cái gì đó se sắt hơn. Mùa
thì không thay đổi, có thể lòng người đang có nhiều đổi thay, xáo trộn.Mỗi
năm, cảm xúc đầu mùa vẫn không nhiều khác lạ, vẫn là phấn khích, xao
xuyến, bồi hồi, nhưng dường như cảm xúc ấy đã được lồng vào đó ít nhiều
những trăn trở, suy tư... Mùa Đông làm nỗi cô đơn trong tâm hồn thấm đẫm
lạnh giá nhưng điều quan trọng nhất giờ đây nó là sự cô đơn trong yên
bình.Đông lạnh lẽo nên cần lắm những tia nắng mặt trời ấm áp, cần lắm hơi ấm và một bàn tay chia sẻ... Đọc được trên FB của ai đó những dòng này:
“Mùa
Đông lạnh nhưng rất lãng mạn. Nắng của mùa Đông dù yếu nhưng cũng đủ
làm ấm trái tim một ai đó”. Nhưng… mấy ai có được sự ấm áp đó? Đừng đóng chặt trái tim mình, hãy mở cửa trái tim để biết rằng giữa mùa Đông mình vẫn thấy ấm áp.”
Dẫu chưa đi trọn kiếp người… Dẫu biết không có gì là trường cửu… Chỉ biết rằng: mỗi độ Đông tàn, cây trên cành rụng trơ trụi lá, để nàng Xuân vươn cành khoe lộc biếc dưới trời xanh…
Khi mùa Đông đến....Không
có nhau, tiết trời trở nên lạnh lẽo hơn. Cô bạn đồng nghiệp khi được
hỏi có phải em sợ trời lạnh không? Em bảo em không sợ mùa Đông, không sợ
trời lạnh, em chỉ sợ mùa Đông của trái tim. Từ khi mất anh ấy trái tim
em cứ mãi là mùa Đông… Cuộc sống này luân chuyển 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông … Sao lại phải mãi là mùa Đông nhỉ? Chuồn Chuồn Kim @@ tks for sharing CCK
Ngày
Giáng Sinh mang tất cả nét tinh hoa của những ngày lễ hội, đó là tình
yêu của Valentine, mang điều ân nghĩa của Thanksgiving, mang ơn Mẹ của
Mother's Day, mang nghĩa Cha của Father's Day, còn hơn nữa là tấm lòng
của ông bà, cha mẹ đối với con cái, cháu chắt, của con người đối với con
người.
Nước Mỹ còn có ngày National Boss's Day, ngày National
Secretary's Day, nhưng cuối cùng tất cả đều thể hiện qua Giáng Sinh.Bạn
có thấy là bây giờ thương xá đông người, tràn ngập khách mua sắm cho
đến phút chót kề cận ngày Giáng Sinh. Từ một chiếc thiệp gởi người bạn
phương xa mà có khi cả năm bận rộn chưa có một lời thăm hỏi, cho đến một
món quà cho một người ơn đôi khi tưởng mình đã không còn nhớ đến.
Trong
chúng ta ai lại không có một người để tặng một món quà, đó là người vợ,
người chồng, người yêu của chúng ta; đó là cha mẹ, đó là anh em, đó là
người bạn cùng sở, bà hàng xóm, cô giáo của con cho đến cả người đưa thư
hay người quét dọn trong chung cư. Mùa Giáng Sinh chính là thời gian để
bày tỏ, thể hiện tấm lòng của chúng ta đối với người khác. Trong chúng
ta, ai là người ngày Giáng Sinh không hề nhận được một món quà hay không
hề mua một quà cho ai?Ngày xưa tôi rất thích câu chuyện cảm
động mùa Giáng Sinh của O. Henry: “Ðôi vợ chồng son James và Dolly rất
đỗi thương yêu nhau nhưng họ quá nghèo. Ngày Giáng Sinh đến, nàng muốn
mua tặng chàng một chiếc dây đeo cho chiếc đồng hồ gia bảo của chàng
nhưng chỉ dành dụm được một số tiền quá ít, chàng thì lâu nay muốn có
một chiếc lược để tặng nàng vì mái tóc vàng óng ả của nàng quá đẹp.
Trước ngày Giáng Sinh, Dolly quyết định cắt mái tóc đẹp của nàng để mua
một chiếc dây đeo đồng hồ bằng bạc cho James. Về đến căn apartment nghèo
nàn, Dolly bối rối che mái tóc đã cắt cụt và chờ James để trao món quà,
nhưng cũng trong buổi chiều hôm đó, James đã bán chiếc đồng hồ quý giá
kia đi để mua cho nàng một chiếc lược nạm ngọc cho xứng với mái tóc của
nàng.” Mái tóc nàng không còn để cần đến chiếc lược, cũng như chiếc đồng
hồ đeo tay của chàng không còn để cần đến chiếc giây đẹp đẽ.
Họ đã khóc
nhưng tràn đầy hạnh phúc, vì bạn cũng biết rằng hạnh phúc càng chia sẻ,
càng tăng trưởng.Mùa Giáng Sinh mang cái vẻ đáng yêu, hòa bình
và thương yêu, mang sự rộn rã đến trong lòng mỗi người, đến đỗi chúng ta
quên mất đó là ngày của một vị cứu thế ra đời, nó hòa nhập như là phong
tục của loài người trên trái đất. Tôi nghĩ không khí của ngày Giáng
Sinh lan tràn khắp mọi gia đình trên trái đất này như tượng trưng cho
một mùa sum họp, ấm cúng và bình an và thứ văn hóa này là của chung của
mọi người trên trái đất.
Bây giờ trời đã lạnh nhiều, bên ngoài
nhiều ngôi nhà đã giăng đèn, thương xá đông người, trên đường lác đác đã
có những người chở cây thông về nhà và đâu đây vẳng tiếng nhạc Giáng
Sinh. Ðây phải chăng là dấu hiệu của thời gian, báo hiệu một năm cũ sắp
qua hay nói một cách khác một năm nữa lại về, đem lại niềm phấn khởi vui
tươi cho người này, nhưng cũng đem nỗi chạnh lòng buồn bã cho người
khác.
Ngày
xưa khi các con còn nhỏ, mặc đầu gia đình theo đạo Phật, năm nào đến
mùa Giáng Sinh, trong nhà không có cây Noel, nhưng chúng tôi cũng trang
trí một hang đá với chúa hài đồng xin xắn trong máng cỏ, mẹ Maria, ông
Giuse và cả ba vị tiên tri chống gậy đi từ phương Ðông đến. Ðây không
phải là niềm tin nhưng là một thói quen đẹp đẽ, trẻ con hay người lớn
đều thích thú nhìn ánh đèn ấm cúng tỏa ra từ hang đá nhỏ, hay những dàn
đèn muôn màu chớp tắt trong phòng khách và nghe tiếng nhạc Giáng Sinh
rộn ràng vui tươi.
Rồi miền Nam qua những mùa lạnh vắng tiếng
chuông đêm Noel, nhà thờ đóng cửa và tín đồ thầm lặng cầu kinh trong
bóng tối của lo sợ, cam chịu và chia lìa. Ông già Noel, sản phẩm của đế
quốc phương Tây lặn lội trong bùn lầy thủy lợi hay chia sẻ nỗi khổ đau
của dân tộc, đang vác thánh giá trong các trại tập trung ở Kà tum, Suối
Máu hay bị đày tận Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn.Ðến miền đất tự do
hôm nay, nhiều gia đình đã dựng lại cây Giáng Sinh, như dựng lại cuộc
đời và phục hồi niềm vui và hy vọng lại cho cả một thế hệ đã đau khổ,
mất mát và cho cả tuổi thơ, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở đây. Tuy
vậy, thời gian trôi qua như chớp mắt, niềm vui Giáng Sinh đem hy vọng,
phấn khởi và vui tươi cho tuổi trẻ nhưng cũng là chút u hoài, tiếc nuối
và chạnh lòng của người già. Mỗi năm, các con mỗi ngày mỗi lớn, cha mẹ
tóc mỗi ngày mỗi bạc, niềm vui của những mùa Giáng Sinh không còn rộn
ràng vui tươi mong đợi như ngày trước. Rồi các con như cánh chim lần
lượt bay xa, để lại cha mẹ luống tuổi bên tổ lạnh.
Cây Giáng Sinh ngày
trước mỗi năm được dựng lại, giăng đèn kết trái, đã mấy năm rồi nằm quên
lãng trong nhà kho bụi bặm, vì trong nhà không còn tiếng cười nói trẻ
thơ, không có những đôi mắt ngây tròn sung sướng khi gói quà được mở ra. Tổ ấm ngày xưa nay đã vắng người, cha mẹ sống với nỗi quạnh hiu, có khi
người đi người còn ở lại. Cũng xin nhớ đến những bậc phụ mẫu đang cô
đơn trong nhà dưỡng lão, và những người sắp qua đời trong đêm nay.Bây
giờ có những cây Giáng Sinh buồn vì con trai đang ở mặt trận xa, bây
giờ có những cây thông chưa được lên đèn trong nhà người góa phụ và con
côi. Ánh đèn Giáng Sinh tỏa sáng, tiếng nhạc Giáng Sinh reo vui nhưng
không đến được cho mọi nhà, đem hạnh phúc lại cho loài người trên mặt
địa cầu, trong những vùng đất nghèo đói, chiến tranh, áp bức và bệnh
tật. Ông già Santa Claus có thói quen theo ống khói lò sưởi đem quà đến
cho trẻ thơ, nhưng nhiều gia đình không có đủ một mái tranh, đang ở
trong hang động, hay dưới một tấm lều vải trong trại tạm cư. Giáng
Sinh đem phấn khởi lại cho tuổi thơ, đem hoài niệm, tiếc nuối cho người
già nhưng nỗi bình an cho nhân loại hôm nay hãy còn quá xa xôi. ~~~ Huy Phương~~~ @@ tks t/g HP ,& Merry Xmas 2012 !!
Tôi
không nhớ được mùa Giáng Sinh năm ấy tôi bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chỉ
độ lên mười. Có lẽ đó là một mùa Giáng Sinh khá buồn và ảm đạm vì các
anh chị tôi đi làm, đi học xa không về được, ở nhà quạnh quẽ chỉ còn hai
mẹ con. Thời thơ ấu, tôi thèm lắm những bóng đèn xanh đỏ chớp nháy trên
cây Giáng Sinh, một hang đá bằng giấy quết mực đen với những tượng
Thánh xinh xinh bằng đất nung. Nhưng mộng ước ấy xa vời lắm đối với một
đứa trẻ mười tuổi quá bé bỏng, trong lúc mẹ tôi xoay sở lo cho các con
cơm ăn áo mặc đã vất vả, thời buổi ấy quả là một gánh nặng nhọc nhằn,
trên đôi vai bé nhỏ của người đàn bà góa bụa. Tuy chỉ là một
đưá trẻ nhưng ông Trời dường như đã cho tôi một tâm hồn khá nhạy cảm để
âm thầm tìm niềm vui cho mình từ những nhỏ nhoi nhất. Bởi vậy, đêm Giáng
Sinh năm ấy dù không có đèn sao nhấp nháy, những trái châu xanh đỏ,
nhưng tôi đã biết dùng những chiếc kẹo đủ màu để treo lên nhánh cây
dương xỉ nhặt được trong khu nhà thờ, khi người ta đến đó trang hoàng
hang đá cho mùa Giáng Sinh. Duy nhất một ngọn nến trắng bập bùng, ánh
sáng lung linh hắt lên tường bóng một cành cây và một bóng người. Ngọn
nến trắng đêm ấy đã làm cho cành cây và cái bóng của đứa trẻ thơ như lớn
hơn, in lên tường chập chờn một giấc mơ tuyệt vời ấm áp. Tôi không nhớ
được hết cảm giác đó vì thời gian qua đi khá lâu, nhưng cảm nhận về ngọn
nến trắng thời thơ ấu đã giúp tôi vượt qua nhiều nỗi buồn, mỗi khi lẻ
loi, thất vọng, tôi vẫn cứ nhớ hoài ngọn nến trắng mùa Giáng Sinh.Tôi
còn nhận được một món quà đặc biệt của bà hàng xóm, bạn của mẹ tôi, cho
đến bây giờ dù thời gian qua đi mấy chục năm, tôi vẫn hình dung ra được
hình dáng và mùi vị của nó: một củ khoai lang nướng.
Món quà
Giáng Sinh nghèo nàn của bà hàng xóm quê mùa thật vừa bụng tôi lắm, dù
rằng mẹ tôi có làm vài món ăn đặc biệt cho ngày Lễ. Tôi mơ màng nhìn
ngọn nến lung linh soi lên cây Giáng Sinh của tôi, cứ gọi như vậy vì nó
là niềm vui có thể làm được của một đứa trẻ con mười tuổi, củ khoai
nướng gói trong mảnh lá chuối còn nóng hổi, mùi mật ngọt của khoai bốc
lên thơm lừng, mùi rơm rạ hình như còn ủ trong lớp vỏ khoai cháy xém. Nụ
cười trìu mến trên khuôn mặt hiền lành của bà hàng xóm, khi đưa cho tôi
món quà Giáng Sinh nghèo nàn ấy. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ khuôn mặt
quê mùa, chân thật của bà, củ khoai lang nướng đêm Giáng Sinh ngày thơ
ấu đã theo tôi vào đời. Khi trưởng thành, những lúc bụng đói mắt cay,
đời gặp lúc gian nan, buồn tủi, tôi cũng nhớ củ khoai nướng, nhớ mùi
khoai lang nướng. Khi sung sướng hạnh phúc ở quê người, đời no đủ những
cao lương mĩ vị, tôi cũng nhớ mùi vị củ khoai nướng. Phải chăng trong
tôi vẫn vấn vương thứ TÌNH NGƯỜI nhỏ nhoi ấy, không thể mua được bằng
tiền. .
Tôi
yêu đóm lửa ngọn nến trắng từ hồi còn thơ ấu, chắc là ngọn nến sáng mùa
Giáng Sinh năm xưa cũng đi theo tôi đến những chặng đường còn lại của
đời người. Có một câu chuyện tôi sắp kể ra đây, đó là câu chuyện của ông
cụ Rôbéctô tôi có dịp gặp ở ngôi nhà nguyện. Mỗi ngày, sau Thánh Lễ
buổi sáng, mọi người đã lục tục ra về, ngôi nhà nguyện đóng kín cửa như
chìm trong yên lặng và bóng tối, chỉ còn lại duy nhất một ngọn nến trắng
trên bàn thờ. Ánh nến hắt lên tường những chấm sáng lung linh, soi lên
bức tượng Đức Mẹ bồng con bằng thạch cao trắng toát. Nến trắng và tượng
trắng, tất cả chỉ là một màu trắng nhưng nghe trong thinh lặng chút bình
an tràn ngập tâm hồn.
Tôi ngồi lại một lúc giữa những hàng
ghế chỏng trơ không còn ai, nhìn chăm chăm lên ngọn nến. Tôi ở lại một
mình chỉ vì thích đóm lửa nhỏ nhoi của ngọn nến, say sưa nhìn đóm lửa
nhỏ lay lắt tỏa ánh sáng hắt hiu xuống chiếc khăn trải bàn cũng màu
trắng. Trong tĩnh lặng của tâm hồn, tôi không cầu nguyện gì đâu, nhưng
cảm giác bình yên khi nhìn ánh sáng của cây nến trắng đã rất đủ. Chắc
hẳn trong mỗi đời người ai cũng có lúc thèm sự yên tĩnh của tâm hồn. À
không, ở dãy ghế bên kia còn một ông già Mễ Tây Cơ, ông vẫn quỳ im lặng
nhìn lên ngọn nến như tôi vậy, nhưng khác hơn là miệng ông mấp máy cầu
nguyện.
Mặt ông héo quắt với chòm râu bạc, đôi mắt đăm đăm nhìn lên ngon
nến, nét mặt thành khẩn như đang cố bám lấy một niềm hy vọng nơi bức
tượng Thánh trên bàn thờ. Buổi sáng nay đi ngang công viên để
đến nhà nguyện, tôi đã nhìn thấy mùa Đông trở về, một rừng lá vàng khô
xôn xao đuổi nhau lăn xuống cuối dốc, trơ lại những nhánh cây khô, treo
trên đó là những thân tầm gửi đang đong đưa theo gió sớm.
Buổi sáng đầu
mùa Đông mang theo chút giá buốt, khu công viên chỉ lác đác dăm người đi
bộ, và những cây hoa dại có một sức chịu đựng dẻo dai, nở những bông
hoa li ti trên bờ cỏ ven đường. Khi ngọn nến tàn là lúc ấy tôi
với ông già Mễ cũng ra khỏi ra nguyện. Ánh sáng leo lét của ngọn nến
cháy bập bùng rồi gần như lả xuống trong lòng chiếc bình thủy tinh trong
suốt, y như cái ngoẹo đầu cuối cùng của một người khi từ giã cõi đời. Ông già Mễ mỉm cười chào tôi trước sân nhà nguyện, ở đấy có một vườn hoa
nhỏ và hai băng ghế dài đặt song song đối diện nhau. Có khi tôi cũng
ngồi lại một chút để nhìn vẩn vơ lũ chim sẻ đang nhảy nhót trên sân tìm
mồi, bỗng đồng loạt bay ào lên khi thấy có bóng người bước tới. Đôi khi
tôi và ông Rôbéctô hay trao đổi vài câu chuyện nhỏ, cái miệng móm mém
của ông phều phào kể cho tôi nghe những nỗi buồn nho nhỏ trong gia đình,
ông hay đi nhà thờ để cầu nguyện cho đứa cháu đang đi lính ở phương xa.
Khi
biết tôi ở lại một mình cũng chỉ vì thích ánh sáng lung linh của ngọn
nến trắng, và câu chuyện mùa Giáng Sinh thời thơ ấu, ông RôBécTô cảm
động lắm. Đôi mắt ông hấp háy, nhòa ướt qua giọng nói khàn khàn ẩm đục.
Mùa Giáng Sinh đến, trời bắt đầu lạnh hơn, tôi có ý nghĩ chuẩn bị một
món quà cho ông bạn già vong niên trước ngày Lễ Giáng Sinh.
Có gì đâu,
tôi lại nhớ đến củ khoai lang nướng bà hàng xóm tặng tôi đêm Giáng Sinh,
bây giờ nghe ông Rôbéctô thích vài món ăn Việt Nam, tôi nghĩ đến chuyện
tặng ông một hộp cơm rang và chục cái chả giò tôm thịt. Chẳng có gì hơn
bằng một món quà đáp ứng đúng sự ưa thích của người nhận, ông Rôbéctô
cảm động lắm khi nhận món quà của tôi buổi sáng trong muà Lễ Giáng Sinh,
tôi thấy đôi mắt ông nhòa lệ khi nắm lấy tay tôi nói phều phào những
lời cảm ơn. Tôi không nghĩ đến việc cho đi để nhận lại một món
quà thật dễ thương của ông Rôbéctô vài hôm sau đó. Khi tan buổi lễ, ông
gặp tôi trước sân nhà nguyện, với một gói giấy hoa thật đẹp, thì ra ông
già đã nhờ cô con gái mua hộ cho tôi một món quà thật xinh: đó là chiếc
áo len màu hồng nhạt. Vẫn cái giọng Mễ Tây Cơ lùng bùng những thanh âm
nằng nặng, ông nói rằng món quà này thật là thích hợp cho tôi, người phụ
nữ Á Đông có dáng dấp nhỏ nhắn và nước da trắng trẻo.
Quả thật chiếc áo
len màu hồng khi mặc vào đã làm tôi như trẻ lại hằng chục tuổi. Món quà
của ông Rôbéctô đã thắp lại trong tôi ngọn nến sáng mùa Giáng Sinh năm
nào, với củ khoai lang nướng khi tôi là cô bé lên mười thuở ấy. . . Ông Rôbéctô đã qua đời vài năm nay, ông chết vì bịnh ung thư phổi. Những năm cuối của cuộc đời, ông không đến được nhà nguyện mỗi ngày,
nhưng trước khi chết ông vẫn mong được gặp những khuôn mặt yêu thương
của những người Việt ông quen biết. Rất tiếc là tôi không thường gặp ông
sau này, nhưng tôi biết ông ra đi rất êm ả. Người ta kể rằng trong
những giây phút cuối cùng của đời người, ông chỉ xin đốt lên cho mình
một ngọn nến. . .
Những
ngày cuối năm với những cơn mưa mùa Đông làm ẩm ướt không gian, đất
trời như nặng trĩu một nỗi sầu da diết. Trong căn nhà vắng lặng, bóng
chiều hình như đến vội với những giọt mưa rả rích ngoài hiên.
Trời rét
lắm, gió và rét khiến những chú chim sẻ nhiều chuyện không ríu rít như
mọi ngày, chúng rủ nhau vào trốn gió sau bụi mía, lả mình vào hàng rào
đang rung rung những chiếc lá úa. Những con chim sẻ mùa Đông trông thật
dễ thương, xù lông ra tròn quay như một cụm len màu nâu xám biết nhảy
nhót. Góc vườn nơi cửa sổ nhà bếp rất khuất gió, bụi mía sắp
tàn như một mái nhà tranh trống trước hở sau, che tạm cho một gia đình
nghèo khổ. Sau cơn mưa, trời chuyển qua những đợt gió lạnh buốt xương,
tôi đứng từ trong nhà nhìn ra khung cửa kính nhà bếp, tò mò nhìn mấy chú
chim sẻ núp dưới vòm lá mía.
Cũng đỡ buồn khi ngắm nhìn bầy chim sẻ mùa
Đông, y như những đứa trẻ bụi đời trên vỉa hè thành phố một đêm mưa nào
đó, rúc vào nhau trong tấm chiếu trải bên lề đường, cuộn tròn lại với
nhau đưới tấm chăn bẩn . Mấy con chim sẻ cũng khôn ngoan rủ nhau tụ vào
một chỗ, có con đang co ro ngủ gật, có con mắt láo liên, thỉnh thoảng
lại lách chách bay lên tàu lá như vừa tìm được một con mồi đỡ lòng cho
ngày Đông buốt giá.
Nhu cầu ăn để sống vẫn bắt nó phải tìm mồi dù đôi
cánh lảo đảo trong gió rét như muốn rơi xuống thảm cỏ, trông thật tội
nghiệp. Đứng trong nhà nhìn qua lớp cửa kính trong suốt, ở góc
phòng chớp tắt những chiếc đèn nhấp nháy trên cây Giáng Sinh, tôi thấy
con chim bé bỏng đang vỗ vỗ đôi cánh nhỏ, rồi gõ cái mỏ nhỏ xíu lên mặt
kính, cũng tò mò nhìn tôi, làm như nó cũng thèm thuồng được vào trú ẩn
trong căn nhà có ánh đèn ấm áp. Tôi chia xẻ được gì đây? Người và chim
là hai thế giới khác hẳn nhau, và có lẽ dù được cho ăn no, chú chim sẻ
vẫn không thích thú gì khi bị con người giam chú vào cái lồng chim chật
hẹp. Những chú chim sẻ mùa Đông như những búp len xậm màu, xếp hàng xúm
xít vào nhau để trốn gió sau rặng mía ven bờ rào, lại dẫn đưa tôi đến
một khía cạnh khác của con người, mà ở câu chuyện này tôi vẫn thấy cái
đẹp nhỏ nhoi của Tình Người ấm áp biết bao nhiêu.
Đó là câu chuyện của
hai người vô gia cư, hay là chuyện "lá rách đùm lá nát" đã làm thức dậy
chút bâng khuâng trong tâm hồn những quả tim chai đá. Một
buổi tối mùa Đông trước ngày Lễ Giáng Sinh, trời mưa phùn, rét như cắt
ruột. Đường phố vắng xe qua lại, phía xa là những ánh đèn màu rực rỡ
chớp tắt quấn trên những thân cây ven đường. Suốt một tuần sắp lễ Giáng
Sinh, thời tiết bỗng dưng âm ỉ rét, những đợt gió lạnh từ hướng Bắc thổi
về, người có việc ra đường co ro trong những chiếc áo ấm dày cộm và
khăn phu la quấn quanh cổ. Hình như người ta ngại đi ra đường vào một
tối trời mưa như vậy, chỉ còn một vài cửa hàng bán "fast food" và cà phê
là còn mở cửa, có dăm người khách ngồi im lặng trầm ngâm trước khay
thức ăn ăn uống uể oải. Khách đến tiệm vào giờ này có lẽ là những kẻ xa
nhà, thiếu một bếp lửa hồng để sưởi ấm cõi lòng cô quạnh, ngày giáp Lễ
thường sau giờ làm việc, ai nấy hối hả về nhà chuẩn bị đón mừng lễ Giáng
Sinh. Người phụ nữ bán hàng đang dọn dẹp mấy thứ lặt vặt,
mong đến giờ đóng cửa để đi về, vì chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến
nửa đêm.
Bà nghĩ đến hai đứa con đi học xa vừa về nhà với mẹ mấy hôm
nay, đã lâu lắm người mẹ chỉ mong được gặp các con trong những dịp Lễ Tạ
Ơn hay mùa Giáng Sinh, và bà đã chuẩn bị những món ăn truyền thống mùa
Giáng Sinh cho các con từ mấy ngày hôm trước. Gia cảnh đơn chiếc vì năm
ngoái người chồng đã qua đời sau một tai nạn, bà vẫn ở một mình trong
căn chung cư cũ kỹ, những ngày gió mưa căn nhà nhỏ như càng ẩm ướt, lạnh
lẽo. Ngay khi ấy, cánh cửa tiệm bật mở đem theo một làn gió
buốt lạnh vào trong tiệm ăn, hai người đàn ông chùm đụp trong những tấm
chăn bẩn bước vào tiệm. Người phụ nữ nghĩ đó là hai người khách cuối
cùng, vì bà cũng nhớ ra đó là hai người đàn ông nghèo khổ, không có một
mái nhà, chỗ trú của họ là cái gầm cầu ngoài xa lộ đi về hướng
Galveston. Thỉnh thoảng họ có dắt nhau đến đây, trông họ có vẻ là hai
anh em, người đàn ông lớn tuổi trông vẻ mặt rất ngây ngô như một đứa trẻ
chậm phát triển. Trong hai người đàn ông ấy, ông già gương
mặt đờ đẫn, ngờ nghệch nhìn thế giới xung quanh ông như nhìn một thế
giới khác, thời gian đã cày lên khuôn mặt ông những nếp nhăn chằng chịt,
bộ râu hung hung nay đã xám ngoét, bết vào nhau như một cụm rơm bẩn. Người đàn ông kia trẻ hơn, có đôi mắt màu xanh lơ trông hiền lành như
màu biển, co ro trong chiếc áo rét bằng dạ xám bẩn và cũ. Họ rét lắm,
chằng đụp lên người những quần áo và chăn bẩn, bốc lên một mùi hôi.
Ngoài trời, cơn mưa phùn mùa Đông như những chiếc kim khâu luồn từng
giọt căm căm vào xương tủy, gió nhiều hơn mưa, mưa và gió lại là hai vị
Thần nguy hiểm của những người bần cùng, nghèo khổ. Hai
người đứng xếp hàng chờ đợi.
Người đàn ông trung niên vét mãi hết túi
này đến túi kia được một nắm hào lẻ, chưa đầy một đồng bạc nhưng cũng đủ
mua một ly cà phê nóng. Theo quy định của cửa hàng, khách vào tiệm phải
mua một món gì mới được phép ngồi lại. Trời rét ngọt ở bên ngoài, nhưng
trong tiệm thật ấm vì có máy sưởi, quần áo của hai người đàn ông nghèo
khổ toát ra một mùi hôi khiến những người trong tiệm phải nhăn mặt. Mua
xong ly cà phê, họ vội vã dẫn nhau vào cái bàn xa nhất, như sợ rằng mùi
hôi trên quần áo, cái nheo nhóc, bẩn thỉu của thân phận người nghèo cũng
sẽ làm những người xung quanh khó chịu. Người phụ nữ bán hàng
để ý nhìn hai người "homeless" mà chỉ mua có một ly cà phê. Khi nhận ly
cà phê trên tay bà, người đàn ông trẻ hơn vội vã đưa cánh tay dìu người
đàn ông già đi về chiếc bàn trong góc tối. Hình ảnh đó khiến bà xúc
động, một người "không có gì" cũng đang cố sức giúp một người "không có
gì" gượng đứng trên cõi đời đầy đau khổ, khi họ nhường cho nhau ủ đôi
bàn tay lạnh cóng vào ly cà phê nóng còn bốc khói. Người đàn ông trẻ hơn
đẩy ly cà phê vào đôi tay ông bạn già đang run rẩy, rồi một chốc người
kia lại đẩy ly cà phê sang phía người đối diện, họ cứ chuyền tay nhau ly
cà phê nóng còn bốc khói mà không uống ngụm nào. Họ cần một chút ấm
trong đêm nay, mà cơn gió tháng chạp lạnh lẽo đã luồn vào gầm cầu trống
trải khiến họ rét run bần bật . Thời tiết và thời gian là đôi bạn đồng
hành ác độc đè lên đôi vai họ một cách nghiệt ngã, để họ không còn sức
chịu đựng mà chống chỏi cơn giá rét mùa Đông như những năm trước. Người phụ nữ đứng trong quầy hàng, như bức xúc trước cái khổ của đồng
loại. Dù sao bà cũng có một mái nhà để chui ra chui vào, dù sao bà cũng
có hai đứa con, và lát nữa đây khi tiệm đóng cửa, con bà sẽ đến đón mẹ
về nhà để đón mừng ngày Lễ Giáng Sinh. So sánh giữa hai cái khổ, bà vẫn
thấy mình hạnh phúc hơn hai người đàn ông "homeless" kia.
Không biết
nghĩ sao, bà móc túi tìm vài đồng bạc lẻ, và thật sung sướng khi đóng
vai một người khách, bà có đủ tiền mua tặng cho hai người đàn ông nghèo
khổ một khay thức ăn nóng hổi. Bà bưng khay thức ăn đến cái bàn của hai
người đàn ông, với một nụ cười dịu dàng và câu chúc "Giáng Sinh Vui
Tươi", bên chiếc khay còn thêm một ngọn nến trắng cắm trong cái ly nhỏ
bằng thủy tinh trong suốt, bà vừa mua nó hồi trưa nay tại một tiệm chín
mươi chín xu để buổi tối đặt trên bàn ăn, đốt lên ngọn lửa giáng sinh ấm
áp mừng ngày xum họp trong gia đình. Hai người "homeless" ngỡ
ngàng nhìn người phụ nữ. Người đàn ông mắt màu xanh lơ có chòm râu bạc
nhìn chăm chăm vào khuôn mặt của người phụ nữ tốt bụng, nói lời cảm ơn
nghẹn ngào với đôi mắt rưng rưng. Ông đẩy khay thức ăn qua cho người bạn
già ngớ ngẩn của mình, bằng ánh mắt thương yêu trìu mến. Ngọn nến mà
người đàn bà tốt bụng vừa đốt lên để mừng Giáng Sinh, cho họ một cảm
giác cực kỳ hạnh phúc, vì họ đang tận hưởng được sự trân trọng như những
con người bình thường trong xã hội. Sau
khi ăn xong khay thức ăn, người đàn ông trẻ tuổi dọn dẹp rồi lại dìu
người bạn già ra khỏi tiệm ăn. Đi qua chỗ người phụ nữ, ông ta ngước đôi
mắt xanh và mấp máy một lời chúc tốt lành nhất mùa Giáng Sinh đến người
phụ nữ, họ mỉm cười với nhau. Đã tới giờ đóng cửa, hai kẻ cùng khổ
không nhà ấy dẫn nhau trở về cái dạ cầu, nơi trú ẩn của họ hằng bao
nhiêu năm nay, họ xin người đàn bà cho họ mang theo ngọn nến trắng.
Bụng
đã no, lòng đã ấm vì tình người như một món quà Giáng Sinh quá bất ngờ,
vừa rơi xuống từ Trời để họ biết là vẫn còn những tấm lòng tử tế trên
cõi đời này. Người phụ nữ cũng sửa soạn ra về, mang theo trong lòng một
niềm vui nhỏ nhoi mà thật là ấm áp. Đôi mắt xanh hiền hậu của người
"homeless" nhìn bà lúc nãy trông quen quá, dường như bà đã nhìn thấy ở
đâu? Sau một phút nghĩ ngợi, bà chợt "à"ø lên một tiếng nhỏ. Phải rồi,
đó là đôi mắt tượng Chúa treo trên vách nhà nguyện, ngồi giữa một bầy
trẻ thơ đang ríu rít đứng xung quanh. Người
ta kể cho tôi nghe một câu chuyện khác, lần này thì tôi nhớ ra ông Tom,
người đưa thư da đen quen thuộc vùng ngoại ô SouthEast. Ông Tom gốc gác
người Phi Châu, da đen bóng, tổ tiên ông bao đời đã từng sống nơi vùng
đầm lầy Lousiana, người du lịch đó đây có thể thấy bên ven đường đi
Baton Rouge, đài kỷ niệm những bước chân đầu tiên của người nô lệ da đen
trên xứ Mỹ.
Ông Tom làm nghề phát thư cho khu vực này khá
lâu, từ khi hàng cây sồi ven đường còn bé tý, những căn nhà khang trang
thuở ấy nay đã cũ kỹ, và chủ nhân những căn nhà ấy bây giờ có thể là một
bà cụ già đi không vững, đám trẻ đã đi đâu mất, chỉ còn những tiếng
chim ríu rít trên rặng sồi là còn y nguyên. Ông Tom biết hết những căn
nhà trên con đường River, biết cả những căn nhà lần lượt đổi chủ, và
những phụ nữ xinh đẹp dễ thương năm nào, nay bước vào tuổi già còn lại
một mình trong khu nhà êm ả đầy bóng cây râm mát. Ông Tom thân
với cụ Mary nhất, cũng từ cái hôm ông bị một con chó trong khu vực ra
được cổng rào, rượt ông chạy trối chết rồi vấp chân vào bậc xi măng bên
vệ đường, ngã lăn ra trước cổng nhà cụ Mary, đúng vào lúc bà cụ ra mở
thùng thư để lấy thư như thường lệ. Bà cụ nhìn người đưa thư da đen ái
ngại, rồi bà mời ông vào ngồi nghỉ trên chiếc ghế đá ở sân trước, trong
khi ông Tom chưa hoàn hồn vì cái ngã đau làm đầu gối ông bị trầy trụa,
rướm máu. Bà cụ Mary vào nhà, lúc trở ra bà bưng cho ông một
ly nước cam, với một túi vải đựng dăm thứ thuốc sát trùng và băng cá
nhân. Bà dịu dàng bảo ông Tom vén ống quần lên cho bà xem vết thương,
nhẹ nhàng lau vết thương cho ông rồi băng lại cẩn thận.
Ông Tom cảm thấy
dễ chịu quá, trước kia ông vẫn ngấm ngầm cho rằng đâu đó là sự chia
cách của màu da, của con người giữa những tầng lớp xã hội, và những đau
buồn của dĩ vãng từ đời tổ tiên khiến ông có ít nhiều mặc cảm với người
da trắng. Hai người mỉm cười với nhau, chỉ có thế mà ông Tom nhớ mãi vì
hôm ấy là một ngày đẹp nhất của mùa thu . . . Từ đó họ thành
đôi bạn vong niên của nhau. Ông Tom cũng biết thêm bà cụ Mary sống cu ky
có một mình, con cháu bà ở một thành phố khác, từ khi cụ ông qua đời
thì bà Mary cô quạnh thêm vì vắng người hủ hỉ. Mỗi ngày đem thư đến khu
vực này, ông Tom luôn mong thấy khuôn mặt và nụ cười hiền lành của bà
bạn vong niên ra lấy thư, hôm nào vắng bà cụ là ông Tom lại cảm thấy
không yên bụng. Năm nay mùa Giáng Sinh lại đến. Mùa Đông rét
hơn mọi năm, hay là ông Tom nay đã yếu để thấy rằng cơn gió mùa Đông Bắc
bỗng dưng lại khắc nghiệt hơn những năm trước. Sau mùa Giáng Sinh ông
Tom sẽ có những ngày nghỉ phép, ông về thăm lại anh em của mình ở vùng
đầm lầy Lousiana, ông sẽ trở về khu nhà tồi tàn, cũ kỹ nhưng ấm áp tình
thương gia đình. Trước khi đi, ông Tom sẽ nói cho bà Mary biết những
ngày ông đi vắng, và ông cũng mong rằng con cháu bà sẽ về xum họp với bà
trong những ngày nghỉ lễ cuối năm. Những ngày cuối G.Sinh,
thùng thư nào cũng có những cánh thiệp mang đầy lời chúc tốt đẹp, nhưng
hai ngày qua mà thùng thư của bà Mary vẫn còn nguyên, không thấy bà lấy
thư như mọi khi.
Ông Tom lái xe đi rồi lại băn khoăn nghĩ
ngợi mãi, không yên lòng chút nào cả. Bà bạn già của ông không biết đi
đâu, ra sao? Lúc trước mỗi lần đi vắng đôi ngày, bà có nói cho ông Tom
biết, nhưng lần này ông chỉ nghe bà khoe người con trai sẽ về thăm, lũ
cháu đi nghỉ Đông với bạn bè ở miền Bắc. Chắc chắn là bà Mary ở trong
nhà, nhưng lý do nào mà thùng thư của bà hai hôm rồi vẫn chưa lấy? Đáng
lẽ ông Tom lái xe về Bưu Điện khi đã bỏ hết thư trong ngày, nhưng nghĩ
sao ông lại quành xe về nhà bà cụ Mary, và ông rón rén mở cánh cổng rào
thấp, hồi hộp gõ cửa chờ đợi. Ông gõ năm, bảy lần, ông bần thần trong
dạ, linh tính cho ông biết bà bạn già không đi đâu, nhưng chẳng biết vì
sao bà không mở cửa.
Tuổi già sống một mình như bà cụ Mary là
chấp nhận tất cả nỗi cô đơn, buồn rầu, hiu quạnh, chưa kể những cơn bịnh
đến bất ngờ không chống đỡ được. Ông Tom định bỏ đi nhưng lòng không an
ổn, ông nhớ lại buổi chiều thu hôm nào bà Mary đã lật đật lấy cho ông
một ly nước cam, đã lau chùi băng lại vết thương trầy trụa trên đầu gối
ông, đã cho ông một nụ cười hiền dịu nhất của tình nhân loại. Không nghĩ
gì nữa, ông Tom quyết định gọi "emergency" để báo cáo về sự vắng mặt
của bà bạn già dễ mến của mình. Khi người ta phá cửa vào nhà, bà Mary
chỉ còn thoi thóp thở, nằm bất động trên giường với khuôn mặt xanh lướt.
. . .Câu chuyện của người đưa thư da đen cứu sống một người
đàn bà già nua cô độc trong căn nhà ở đường River, người ta có đưa lên
chương trình truyền hình địa phương một buổi tối áp lễ Giáng Sinh. Chẳng
biết có ai nghĩ gì về những nỗi buồn đầy ắp trong cuộc sống thường
ngày, hay chỉ có ông Tom đang cầu nguyện cho bà bạn già mau bình phục.
Mùa Giáng Sinh Nguyên Nhung @@ Merry Xmas 2012 & Happy Newyear 2013