Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Ngủ riêng

Vợ chồng anh Lộc chị Tú quen với chúng tôi đã lâu.  Lộc Tú là một cặp rất xứng đôi vừa lứa. Họ nhỏ người và nói tiếng Huế cũng nhỏ nhẹ như nhau. Vợ tôi nói họ giống nhau như hai anh em ruột chớ không phải vợ chồng. Tôi nói: “Anh đọc trong sách thấy có nói vợ chồng ăn ở lâu năm thường giống nhau”.
 Vợ tôi cười rồi giải thích: “Họ sống chung trong một ngôi nhà, ăn uống theo một cách, lâu quá tất nhiên phải giống nhau.”Lộc, Tú là người Huế. Tôi gọi họ là “Huế nguyên chất”. 
Vợ tôi lại nói họ là “Huế đặc sệt”. Hai người rất tốt, lúc nào cũng vui vẻ niềm nở.  Cả hai đều khôn ngoan và tế nhị như nhau. Họ có những tình cảm vụn vặt rất dễ thương.
  Đến cả ngày sinh mấy đứa con tôi họ cũng nhớ và thường mang quà sinh nhật đến. Anh nói tiếng Huế nhỏ nhẹ mà lại có duyên, chị có tài làm bếp.  Chị nấu ăn cầu kỳ khéo tuyệt. Riêng cái món nước mắm của chị đã làm cho vợ chồng tôi mê rồi.
 Theo chị, mỗi món ăn phải có một một thứ nước mắm chế biến riêng. Chị có cả chục cái công thức bào chế nước mắm dùng riêng cho từng thứ như bánh bèo, bánh xèo, bánh cuốn..Còn ớt thì dùng loại xanh, đỏ, ớt bột, ớt ngâm giấm hay ớt xào quánh lại như mứt. Mỗi lần được chị đãi ăn tôi đếm trên bàn ít nhất cũng mười món. Mỗi thứ một ít đựng trong loại chén dĩa nhỏ xíu. Tôi nói nhỏ với vợ : “Giống như cho chim ăn !”
 Vợ tôi thì nói : ” Cho mấy ông tướng ăn theo kiểu thanh cảnh này giống như cho trâu bò ăn hoa mẫu đơn.  Ngưu thực mẫu đơn”. Nhà của họ sạch sẽ ngăn nắp, khó tìm ra cái rác. So với cuộc sống của họ thì vợ chồng tôi thua xa.  Chúng tôi là người Nam nên sống bừa bãi hơn. Thế mà chúng tôi chơi rất thân nhau.Cặp này rất kỹ lưỡng, họ kỹ lưỡng quá mức. Họ sống theo kiểu cổ và còn tin vào chuyện huyền bí. 
Chị Tú nói về con ma chẳng khác chúng ta nói về chiếc xe đạp. Chị kể chuyện ma một cách hết sức tự nhiên. Tôi còn nhớ có lần ngồi chơi với chị ở nhà ngang vào buổi trưa, chị nhìn ra cửa nói: ” Bác Cả về đó!”. Tôi chẳng nhìn thấy ai, tôi hỏi : “Bác Cả nào? Tôi có thấy ai đâu?”.  Chị nói: ” Bác của anh Lộc ngày trước ở cái nhà này.
 Ổng chết hồi tháng chạp năm ngoái!”. Tôi lạnh xương sống, hỏi lại : “Sao tôi chẳng thấy gì?” Chị nói: ” Anh thấy con chó mực đang nằm nó đứng dậy vẫy đuôi đó!”.Chị Tú nhìn đâu cũng thấy ma, còn anh Lộc nhìn đâu cũng thấy điềm lành, điềm dữ. 
Thời gian này chúng tôi sống xa nhau.  Anh làm ở Bưu điện Huế, còn tôi làm việc ở Toà án Ban Mê Thuột.Hôm nay tôi vừa nhận được giấy đổi ra Huế. Chúng tôi chẳng buồn chẳng vui vì đời sống công chức đâu có được ở yên nơi nào. Tôi đánh một cái điện ra Huế nhờ anh chị tìm giúp cho chúng tôi một ngôi nhà.
 Vài ngày sau tôi nhận được thư anh, họ nói rất vui vì hai gia đinh có dịp ở gần nhau. Nhà anh chị thuê cho tôi đã có, nhà ở gần Toà án rất tiện nhưng còn phải sửa chữa và quét vôi lại. 
 Đến ngày tôi lên đường, máy bay vừa đáp xuống phi trường Huế đã thấy anh chị đem xe ra đón.  Chúng tôi tay bắt mặt mừng.
  Lên xe Lộc lái, tôi ngồi một bên. Tú và vợ tôi ngồi phía sau, hai người nói đủ thứ chuyện. Tôi chỉ chú ý đến việc cái nhà. Anh chị nói đã xong nhưng mời chúng tôi ở lại nhà họ vài ngày.
 Tốt ngày hãy dọn tới nhà mới.Nhà Lộc Tú là một ngôi nhà kiểu cổ có vườn rộng, có hàng cây chè tàu cắt xén rất đẹp bao chung quanh .
 Nhà nằm trên con đường Nguyễn Hoàng gần cầu Bến Ngự. Đến nơi anh chị dẫn chúng tôi đi chỉ chỗ nghỉ. Lộc nói :– Ông thì ngủ phòng này, đồ đạc cất chỗ ni!Chị Tú nói :– Còn bà thì ở phòng bên kia, có cái bàn phấn với cái tủ móc áo dài.Vợ tôi nhìn tôi, một cái nhìn rất lạ. Tôi chưa hiểu thì chờ khi Lộc Tú đi xa, vợ tôi nói: Đó anh thấy chưa? Họ kỹ đến thế!
– Em nói họ kỹ chuyện gì?
– Bộ anh không thấy sao ?
– Không.
– Anh chị không để vợ chồng mình ngủ chung!
– Ừ nhỉ, nhưng tại sao ?
– Ông thiệt là ngốc. Vợ chồng ngủ chung có gì thì xui cho họ chứ sao ? Hai anh chị chuẩn bị cho hai vợ chồng mình hai cái phòng để ngủ riêng là với cái ý đó!À ra thế; bây giờ tôi mới vỡ lẽ.Bữa cơm tối đầu tiên thịnh soạn và vui lắm. Tôi lại được thưởng thức mấy món ăn tiêu biểu của xứ Huế sông Hương núi Ngự như tôm chua, trái vả chấm ruốc, cá bống thệ kho rau răm…

 Chúng tôi hàn huyên tâm sự, kể lại biết bao nhiêu kỷ niệm lúc còn đi học.  Anh Lộc hỏi tôi về công việc ở Toà án.  Chị Tú và vợ tôi hỏi nhau về những người bạn cũ. Chị Tú nhớ rất rõ, nhớ mọi chuyện, mọi người.  Có người vợ tôi đã quên tên mà chị Tú còn nhớ cả màu áo của họ mặc lúc đi thi tú tài.
  Anh đem một hũ rượu Ngũ gia bì, màu đen da lươn, có dáng như quả bầu nậm nhỏ bên ngoài dán cái nhãn chữ Tàu đỏ. Anh mở khằn rót ra đầy bốn cái chung nhỏ. Loại chung hạt mít, rượu ngon lắm, nhưng đối với hạng bợm nhậu Nam bộ như tôi không quen uống theo cái kiểu thanh cảnh này.
Chị như hiểu ý rót mãi, Mỗi chén tôi hớp một hớp. Thế rồi anh chị Tú thay phiên rót rượu cho tôi. Một lúc sau tôi nghi ngờ, hay là họ phục rượu mình để đêm nay mình đánh một giấc tới sáng đừng tính chuyện lôi thôi xui cho họ ? 
Nhưng họ đã lầm, dân nhậu hũ chìm như tôi thì cái thứ rượu này ăn thua gì !
Sau buổi tiệc chúng tôi còn ngồi uống nước trà và nói chuyện với nhau đến mười giờ. Lúc này Lộc đứng lên nói :
– Thôi đi ngủ hè? Em dẫn chị vô phòng chỉ chỗ bật đèn, còn anh đi theo tui!Như có sự xếp đặt trước. Lộc Tú “áp giải” vợ chồng tôi đi ngủ. 

Tôi lên giường nằm và quan sát. Phòng tôi có cái giường nệm; mền gối trắng tinh. Phòng vợ tôi cạnh bên, hai phòng có cửa thông nhau. Tôi đẩy thử cửa thì thấy không khoá. Vợ tôi thấy tôi đẩy cửa thì hết hồn nhỏm dậy ra dấu đuổi tôi. 
Tôi chỉ vào chìa khoá, vợ tôi gật đầu làm như hiểu. Tôi trở lại giường mình.Tôi nghe phòng bên cạnh có tiếng Lộc và Tú nói chuyện. Tôi cười thầm , tôi chắc họ phân công người thức người ngủ để canh chúng tôi.
 Đã khuya mà bên phòng Lộc Tú còn đèn sáng trưng, ánh sáng chiếu qua phòng chúng tôi tuy không sáng lắm nhưng đủ để quan sát.
 Anh chị Lộc Tú tính toán rất kỹ nhưng như người ta thường nói : mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Anh chị quên rằng tôi là dân nhậu thì bao nhiêu rượu đó ăn thua gì, còn vợ tôi thì lạ chỗ cũng không ngủ được. 
 Cuối cùng bên đó tắt đèn và có tiếng ngáy đều đều. Họ không thức canh nổi vì hôm nay họ uống rượu nhiều hơn ngày thường. Và tôi rón rén bước xuống đẩy cửa qua phòng vợ tôi.
Sáng hôm sau trong bữa điểm tâm tôi thấy anh chị lén liếc xem mặt mày vợ chồng tôi có còn vết tích gì của cuộc “chiến tranh” đêm qua hay không ? Ngày hôm sau chúng tôi từ giã anh chị tới ở nhà mới. Anh chị thực là người chu đáo. 
Căn nhà anh chị thuê cho, chúng tôi rất vừa ý. Cuộc sống và việc làm của tôi ở Huế diễn ra bình thường. Thỉnh thoảng hai gia đình chúng tôi vẫn gặp nhau.
Thời gian này tôi luôn luôn thầm lo sợ lỡ có chuyện gì xảy ra cho gia đình Lộc Tú chắc họ nói là tại chúng tôi. Cuối năm một chuyện náo động cả thành phố Huế : Lộc Tú trúng số độc đắc!Thiên hạ ai ai cũng nói nhờ anh chị ăn ở phúc đức đi chùa đi miễu, cúng kiến thành tâm nên được trời đất thương cho hưởng lộc.
 Còn riêng vợ chồng tôi lại nghĩ rằng họ trúng số là nhờ chúng tôi !!

  Quý Thể 
@@ tks t/g !

NHIỆM VỤ CỦA CON DÂU


 Bữa tối tại nhà của chú rể, mọi người đang nhiệt liệt đón tiếp nàng dâu mới về.
Cô dâu bắt đầu lên tiếng: "Mến chào tất cả người nhà thân thương của con.
 Con rất cám ơn mọi người đã đón tiếp con vào gia đình mới một cách nồng nhiệt.
 Trước hết, con xin mọi người hãy an tâm là sự gia nhập của con quyết sẽ không làm thay đổi đời sống và những công việc bình thường hằng ngày của quý vị."
Bố chồng hỏi: "Ý của con là..?"
Con dâu trả lời: "Ý con muốn nói là những người rửa chén nên tiếp tục rửa chén.
 Những người giặt áo quần cũng xin giữ yên như vậy.
 Còn ai phụ trách nấu cơm thì xin đừng vì sự có mặt của con mà ngưng nấu cơm.
 Còn ai lo chuyện quét dọn thì vẫn tiếp tục quét dọn.
Mẹ chồng hỏi:
 "Thế thì cô đến đây để làm gì?"
Nàng đâu bình tĩnh trả lời:
- "Dạ, con ấy à?
      Oh ,công việc của con là đến đây làm vui lòng con trai của mẹ muh !"
                                 St .net

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Khi Trái Tim Buốt Giá















Chiều nay chỉ mình em nơi đây
Lòng trống vắng lạnh lẽo quá!
Chẳng phải cái lạnh mùa đông
Trong tim em bao  nhức nhối
Lòng em se sắt 
âu sầu 
Nhưng anh sao vẫn vô tâm ?

  Em  gắng nuốt lê vào trong
Dẫu biết tình yêu xa  cách
Hay ai kia thay lòng đổi dạ
Cuốn bao yêu thương vào dĩ vãng
Tình mình nay chỉ là hư ảo
Đường trần ai hiểu thấu lòng ta
Em đành chấp nhận chia tay nhau
Cho lòng thanh thãn nhẹ nhàng
  ôi  trái tim buốt giá ....

Camly


Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Giáng Sinh Và Người Bạn Buổi Sáng

 Còn những hơn 12 ngày nữa mới đến lễ Giáng Sinh mà văn phòng tôi đã chuẩn bị làm “lễ thắp đèn” (tree lighting ceremony).  Từ đầu tuần, bà giám đốc đã gởi email thông báo cho toàn thể nhân viên biết ngày giờ để tham dự ngày truyền thống này. 
 Năm nào cũng thế, trước ngày lễ thắp đèn vài ba ngày thì ông sếp của nhóm “Chuyên Viên Tìm Việc Làm” (Job Developer), người có cái xe truck to tướng, sẽ xung phong đi khiêng về một cây thông tươi cao đến gần 5 feet để trưng bày trong phòng họp phía sau. 
 Ban tổ chức ngày “Giáng Sinh Cho Trẻ” (Christmas For Kids) sẽ phụ trách phần bày biện, trang trí căn phòng và cây thông cho đẹp đẽ hơn để lũ trẻ có một khung cảnh rực rỡ chụp hình với ông già Noel.
Trong ngày “Giáng Sinh Cho Trẻ” này, sau khi ăn uống, chơi đùa và chụp hình với ông già Noel xong xuôi, đám trẻ sẽ được hướng dẫn đi thăm thú cả văn phòng để ngắm nghía và bỏ phiếu bầu cho unit nào trang hoàng hấp dẫn nhất, vui nhộn nhất.  Thế nên năm nào chúng tôi cũng lo trang trí khu vực làm việc của mình cho bắt mắt để dành giải thưởng. 

 Thật tình thì giải thưởng chẳng có gì đặc biệt, chỉ là một cái cúp có hình ngôi sao và một khay bánh quy đủ màu xanh đỏ, tím vàng... nhưng chủ yếu là tranh giải cho vui.  Hai năm liền, nhóm của tôi đã đoạt được giải trang trí “tuyệt vời” vì những sáng kiến hay lạ của nhóm.
  Năm nay chơi nổi hơn, chúng tôi sẽ bày cảnh Noel ở đảo Hạ Uy Di thần tiên có biển xanh, cát trắng.  Cả nhóm hùn tiền vào mua những vật liệu cần dùng rồi hoạch định chương trình “hành động”.  
Chỉ trong vòng nửa tiếng là chúng tôi đã dán xong những tấm phông ni lông có vẽ một rừng dừa tươi và vùng biển xanh ngắt trải dài hai bên tường cubicle.  Tania vác hết mấy cây đuốc với những ngọn đuốc giấy đỏ hừng hực dùng cho Luau party ở nhà vào cắm dọc theo hai bên bãi biển. 
 Cô nàng còn chịu khó khiêng cả cát trong sandbox của đứa con nhỏ vào phủ dưới chân những chú người tuyết, mấy chú Tiki và những gốc dừa kiểng nho nhỏ mà tôi đã mượn của chị Thu hàng xóm để đem vào trang trí.  Sylvia bắc thang treo những trái banh nhựa và lưới bắt cá, bắt sò, lủng lẳng từ trên trần nhà xuống. 
 Esther lo sắp xếp hai cái cái ghế vải ngồi chơi, một cái sô nhựa với mấy cái cuốc, sẻng cào cát, xúc cát màu đỏ, màu cam gọn ghẽ dưới tàn lá vàng hoe của cái dù che nắng ở cuối góc phòng, con đường ra biển. 
 Bên trên bức tường đó, Luz đã dán thêm một tấm plastic màu xanh nước biển để làm phông cho tấm hình ông già Noel đang trượt sóng với hàng chữ Mele Kalikimaka (Merry Christmas).  Còn bà sếp của tôi thì có nhiệm vụ đi tìm mượn mấy cái sà rông và giây hoa đeo cổ để đến ngày “Giáng Sinh Cho Trẻ” chúng tôi sẽ choàng vào chụp hình và tiếp đón phái đoàn trẻ đến thăm viếng vùng đảo thần tiên. 
Năm nay cũng thế, ngày lễ thắp đèn được tổ chức vào khoảng bốn giờ chiều thứ Năm, khi mọi người đã có thể thoải mái một chút sau một ngày làm việc mệt nhọc.  Từ ba giờ rưỡi, người phụ trách công việc “thắp đèn” đã đi đến từng unit nhắc nhở, để những nhân viên còn đang bận bịu với giấy tờ, hồ sơ nhanh chóng lo thu vén công việc của mình. 
 Đến gần bốn giờ thì loa phóng thanh đã vang lên lời triệu tập nhân viên chúng tôi vào họp ở phòng sau.
Deborah, một người trong ban tổ chức ngày “Giáng Sinh Cho Trẻ” đã đón chào chúng tôi ở ngưỡng cửa phòng họp với những cái bánh quy làm bằng sô cô la, lúa mạch, bơ đậu phộng mà cô và đứa con gái lớn đã nướng ở nhà.  Những cái bánh thơm, mềm này được gói trong bao ni lông có mang hàng chữ “Made With Love”, và được cột bằng giây nơ màu xanh đỏ của mùa Noel.  Sau khi trao gói bánh cho chúng tôi, Deborah nói:
-  Đừng quên ornament.  Hot Chocolate và Christmas Carols ở cuối phòng.
Chúng tôi ghé ngang thùng giấy đựng đồ trang trí, chọn một món treo lên cây thông, xong đi tới cuối phòng lấy sữa Chocolate nóng và xấp giấy có in những bài ca mừng Giáng Sinh để chốc nữa sẽ cùng hát với nhau, rồi đi tìm chỗ ngồi.  

 Chờ khoảng chừng 15 phút cho mọi người vào yên vị trí rồi Sharon, người phụ trách công việc thắp đèn, mới ra hiệu cho Deborah xoay nút tắt những ngọn đèn nê ông ở trên trần. 
 Căn phòng vừa chìm vào bóng tối được chiếu sáng trở lại với những ngọn đèn màu xanh đỏ trắng vàng rực rỡ trên cây thông.  Những tiếng vỗ tay và lời chúc mừng Giáng Sinh vang rộn khắp nơi.  Đèn phòng lại được mở sáng lên ngay sau đó, và ban hợp xướng của văn phòng bắt đầu cất tiếng ca với bài hát truyền thống “Twelve Days of Christmas” (12 Ngày Của Giáng Sinh), trong lúc các bạn đồng nghiệp ngồi nhấm nháp những ly sữa Chocolate nóng hổi.
  Sau khi ban hợp xướng ngừng hát thì toàn thể nhân viên chúng tôi sẽ nối tiếp ngay với những bài hát quen thuộc của mùa Giáng Sinh:  Jingle Bell Rock, Santa Claus Is Comin’ To Town, Silent Night! Holy Night!, Rudolph The Red-Nosed Reindeer, Let it snow…
Hồi mới đi làm, Christmas nào cũng nghe ban hợp ca của sở đi vòng vòng đến từng unit để cùng mọi người hát bài “12 Ngày Của Giáng Sinh” suốt mùa lễ tôi đã lấy làm lạ, vì cái bài hát gì mà có gà, có ngỗng, có bồ câu, có cây, có nhẫn, có người đánh trống... lung tung. 

 Rồi lại có cái màn đem thức ăn vào để chia sẻ với nhau 12 ngày trước ngày nghỉ lễ còn làm tôi thắc mắc hơn.  Chả lẽ Mỹ cũng có nguyên tháng Mười Hai là tháng ăn chơi để tổ chức ăn mừng dài hạn ngày Chúa Cứu Thế ra đời như Việt Nam mình đón mừng ngày Tết Nguyên Đán hết gần cả một  tháng Giêng?  Tôi hỏi bà sếp lúc đó của tôi thì bà giải thích như vầy:
 “Đúng ra thì “12 Ngày Của Giáng Sinh” bắt đầu từ sau ngày lễ Chúa sinh ra đời, chứ không phải là trước ngày lễ như mọi người vẫn lầm tưởng.  Theo những tài liệu mà bà đọc được thì “12 Ngày Của Giáng Sinh” bắt đầu từ ngày 26 tháng 12 (The Feast of St. Stephen, lễ mừng Thánh Stephen), và kéo dài tới ngày 6 tháng 1 (The Feast of The Epiphany, lễ Hiển Linh).  Khoảng thời gian này được xem như là thời điểm để mọi người hội họp vui chơi và đem quà đến mừng chúa Hài Đồng.  Vì là “Feast” thành ra cái chuyện ăn uống cũng là một chuyện tự nhiên để hòa hợp với 12 ngày lễ mừng này, nhưng tại sao lại trở thành 12 ngày ăn uống trước ngày lễ Giáng Sinh thì bà không biết.
Còn cái bài hát “12 Ngày Của Giáng Sinh” thì không có ý nghĩa gì hết. Nó chỉ là một trò chơi xem người nào có thể nhớ dai. 

 Bài hát này được du nhập vào Mỹ năm 1910 nhờ cô giáo Emily Brown, và được lưu truyền từ đó tới giờ.  Theo cách thức của bài hát này thì người chủ xướng sẽ bắt đầu hát trước, với câu hát thứ nhất, rồi người thứ hai, thứ ba… tiếp nối, thêm vào một câu hát và lập lại câu hát của người trước… cho đến khi một người tham dự trò chơi này quên mất lời hát, thì phải chịu phạt.
Hình phạt được giao hẹn trước khi mọi người tham dự cuộc chơi, có khi là một cái đánh vào tay, có khi là phải nộp cho những người trong cuộc những cái kẹo Chocolate nhỏ… 

Tuy nhiên, có người đã bảo là bài hát này cũng là một lối giảng dạy giáo lý cho trẻ em vì mỗi lời hát có một ý nghĩa riêng, mỗi “ngày” tượng trưng cho một số khía cạnh của đức tin, chẳng hạn như “A Partridge in a Pear Tree” (con chim đa đa trong cây lê) trong ngày thứ nhất, tượng trưng cho chúa Hài Đồng, “Three French Hens” (ba con gà mái Tây) của ngày thứ ba tượng trưng cho niềm tin, hy vọng và tình yêu...”
Thức ăn trong “12 Ngày Của Giáng Sinh” ban đầu chỉ là những món ăn chơi (finger foods) để nhấm nháp cho vui thôi, nhưng dần dà lại trở thành những bữa ăn trưa thịnh soạn khi chúng tôi đem nào là Spaghetti (mì Ý), Pansit (phở xào Phi), Tamales (bánh tét lúa bắp Mễ), Chowmein (mì xào), Gumbo (súp thập cẩm của miền New Orleans), Cơm rang Dương Châu, Gỏi xoài tôm khô Thái Lan, bánh ngọt, trái cây v.v... vào chia sẻ.  Năm nay cái nhóm nhỏ của tôi và hai nhóm “Dịch Vụ Hỗ Trợ Đặc Biệt” (Specialized Supportive Services) bên cạnh đã họp nhau lại để tính toán xem nên đem những món ăn gì nhâm nhi suốt 12 ngày trước Christmas, nhưng chúng tôi đã đồng ý với nhau là chỉ đem những món nhẹ nhàng thôi vì còn phải để dành bụng tham dự ngày tiệc Giáng Sinh của cả văn phòng nữa. 

 Và để cho hào hứng hơn, chúng tôi sẽ thi đua xem ai có sáng kiến đem số món ăn hòa hợp với lời ca mỗi ngày của bài hát hay không.
Bà sếp tôi bắt thăm nhằm ngày đầu tiên, chỉ đem một món thôi, bà bảo dễ quá, bà sẽ mua mấy hộp… donut.  Natashia bắt thăm được ngày thứ nhì, cô bảo sẽ làm hai món: cánh gà chiên với bánh kẹp waffle, một món ăn truyền thống của vùng đất phương Nam.

  Tôi bắt thăm nhằm ngày thứ ba, tượng trưng cho niềm tin, tình yêu và hy vọng, tôi sẽ đem chả giò, hoành thánh chiên và fortune cookies để bói vận may.
  Luz và Sylvia bắt thăm được ngày cuối cùng đã hồ hởi bảo: Cả bao nhiêu ngày ăn món béo, món ngọt rồi, chúng tôi sẽ cho quí vị lọc sạch ruột bằng những món rau quả tốt tươi, lành mạnh với cà rốt, cần, dưa leo, ớt chuông ba màu đỏ, xanh, vàng, hai loại bông cải xanh, trắng, cà chua sơ ri, ô liu hai màu đen, vàng, chấm ranch dip... là vừa con số 12.
  Gần một năm nay, từ sau khi tôi dọn về ở tại vùng thung lũng thông xanh này, buổi sáng đi làm, khi xe tôi vừa rà tới bảng stop của góc đường Hidden Valley và Rustic Glen thì tôi đã gặp ông đứng đó, đưa tay lên chào tôi và nói “Good Morning”. 
 Tôi gặp ông đều đặn một tuần lễ bốn ngày, từ thứ Hai tới thứ Năm.  Thoạt đầu, tôi không để ý đến ông vì hầu như sáng nào tôi cũng đi làm trễ, nên tôi chỉ có đủ thì giờ để… phóng xe chạy, thì bảo sao tôi có dư thì giờ để nhìn xem ai đi, ai đứng ở hai bên đường.
   Đôi khi, tới bảng stop mà tôi cũng không có thì giờ ngừng lại hẳn hoi, chỉ nhấp thắng một chút rồi chạy tiếp, tại tôi cứ ỷ y là góc đường này hơi xa đường lớn, vắng xe, và tảng sáng tinh mơ nên chắc mấy ngài cảnh sát chưa ăn điểm tâm, uống café xong để đi tuần tra, chứ cái món tiền phạt cho cái tội “rolling stop” này không phải là ít ỏi.
Ông là một ông già Á Đông, dáng nhỏ thó, nước da sậm đen, nửa giống như người Ấn Độ, nửa giống người Campuchia.  Ông đứng đó, cô đơn và nhỏ nhoi.  Bên cạnh chân ông là một cái giỏ màu xanh đậm, to như cái giỏ đi chợ, chắc đựng thức ăn, nước uống. 

 Mùa Hè, ông mặc một cái áo khoác ngắn mong mỏng, còn mùa Đông thì ông co ro trong một cái áo dạ dầy hơn, đầu đội thêm nón len, hai tay dấu kín trong găng. 
 Mưa hay nắng gì tôi cũng thấy ông đứng đó, một chỗ nhất định, trong góc trái của con đường Hidden Valley, dưới chân gốc thầu dầu cổ thụ, như đang đợi chờ ai.  Một ngày, tôi đến đó trễ hơn một chút, thì thấy ông đang trèo lên một cái xe Four Runner màu xám bạc, không kịp đưa tay chào tôi.  Người tài xế của chiếc xe này hình như cũng là người Á Đông, và ông có mái tóc màu xám gần giống như màu chiếc xe. 
Tôi và người bạn buổi sáng này gặp nhau được chừng hơn nửa năm thì trở thành… thân quen.  Mỗi lần tôi ngừng xe ở góc đường đó ông đều nhìn sang giơ tay chào tôi, nói Good Morning.

   Lúc đầu thì tôi chỉ nhìn ông cười nhưng lần hồi thì tôi cũng có thói quen đưa tay chào lại ông.  Có hôm tôi đến góc đường này sớm hơn giờ thường lệ, ông không để ý nên cắm cúi lục lọi cái túi để dưới chân, tôi bấm còi cho ông nhìn lên để nói vọng sang chào ông buổi sáng.
Gặp nhau gần cả năm rồi mà cũng chẳng biết tên để chào nhau buổi sáng, thế nên một ngày tôi cố gắng đi làm sớm để có chút thì giờ rảnh rỗi nói chuyện với ông. 

 Nhờ đó, tôi mới biết ông là người Phi Luật Tân, một dân tộc láng giềng của tôi.
 Ông tên là Tomas Reynoso, qua Mỹ đã được hơn 25 năm rồi, nhờ bà vợ của ông di dân sang trước, rồi về bảo lãnh ông Ông sinh trưởng tại Cavite, một vùng đất ven biển nằm phía Nam thành phố Manila. 
 Ông lên Manila học nghề y tá, rồi ở lại Manila làm việc cho đến ngày sang Mỹ.  Qua Mỹ, ông được nhận làm y tá ngay cho một nhà thương nhỏ trong vùng Norwalk, vì ông biết nói lưu loát ba thứ tiếng: tiếng Phi, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha.
  Làm việc ở Norwalk được khoảng hai năm thì hai vợ chồng ông xin được việc làm cao lương hơn ở hai bệnh viện lớn trên vùng thung lũng thông xanh, nên ông bà dọn lên vùng Pomona này ở.
  Sau một thời gian làm việc, hai vợ chồng ông để dành tiền mua được một căn nhà cũ, nho nhỏ ở thành phố La Verne hiền hòa.  Ông bà có một đứa con trai độc nhất, tốt nghiệp kỹ sư điện toán từ đại học CalPoly Pomona. 

 Gần sáu năm trước, bà vợ của ông, chưa tới tuổi về hưu đã phải nghỉ ở nhà vì bệnh.  Rồi bà bỏ ông ra đi sau những tháng ngày dài phấn đấu với căn bệnh ung thư đường ruột.  Buồn bã vì vợ mất sớm nên ông bán căn nhà ở La Verne, cho con một phần tiền để mua một căn nhà rộng hơn, hai tầng, trên con đường Oak Cliff trong vùng Phillips Ranch, và dọn về ở với con. 
 Còn một phần tiền ông đem về quê xây lại căn nhà ở Cavite.  Không ngờ ba năm trước kinh tế suy thoái, cả hai vợ chồng con ông đều bị thất nghiệp, không đủ tiền trả tiền nhà, chúng phải bán căn nhà cho người em bà con rồi đi sang Michigan nhận việc làm mới. 
 Lúc đó ông đang còn làm việc, nên không thể theo hai vợ chồng con trai ông đi sang Michigan. 
 Ông mướn lại một phòng của đứa cháu, đi làm cho tới cuối năm ngoái.  Năm nay ông đã về hưu rồi, nhưng nếu đi sang ở luôn bên tiểu bang Michigan với con thì ông không chịu nổi thời tiết lạnh giá của vùng bên đó. 
 Ở nhà không có việc gì làm cũng buồn, nên ông đi làm thiện nguyện, chăm sóc mấy người già ở một viện dưỡng lão mới mở tại thành phố Montclair.  Còn người đàn ông lái cái xe Four Runner đến đón ông mỗi sáng tên là Kim, người Hàn Quốc. 
 Ông Kim ở Rowland Heights, cũng đã về hưu lâu rồi, và cũng đi làm thiện nguyện cùng một chỗ với ông, nhưng ông Kim chỉ quen việc giấy tờ nên ông phụ giúp viện dưỡng lão những công việc trên văn phòng.  Ông Kim thấy ông Tomas đi về bằng xe bus hoài cũng tội nên tình nguyện đón đưa ông Tomas mỗi ngày vì đằng nào ông Kim cũng phải chạy ngang vùng này trước khi tới Montclair.
Tôi gật gù:
-  Ừ, tôi thấy nhiều người Phi làm y tá ghê nghen.  Tại sao vậy há, bộ dân tộc ông yêu chuộng cái nghề này lắm hả, hay là tại dễ dàng xuất ngoại?

  Lại nữa, tôi cũng thấy nhiều người Phi nói rành rõi tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha như tiếng mẹ đẻ vậy.
Ông giải thích:  Chúng tôi học tiếng Anh từ thuở nhỏ nên nói rành rẽ tiếng Anh là đúng rồi.

  Nước Phi bị Spain đô hộ trong nhiều năm, nên ngoài tiếng Tagalog, tiếng Spanish được coi như là tiếng nói căn bản của chúng tôi.  Họ và tên của chúng tôi cũng mang nhiều ảnh hưởng của Spain, ít có người nào mang tên họ thuần gốc Phi lắm. 
 Còn tại sao có nhiều người Phi chọn ngành y tá hả?  Hình như ở bên Phi cứ năm bẩy nhà là gặp một nhà có người học làm y tá.
  Chúng tôi chọn ngành này vì muốn giúp đỡ gia đình, vì đi theo tiếng gọi của trái tim, “giving, caring”, chứ không phải tại lương cao, vì lương y tá ở Phi không có bao nhiêu.  Những năm sau này, vì thấy nghề y tá dễ dàng xin di dân đi nước ngoài kiếm sống, làm được nhiều tiền, và nhất là được nhập cảnh Mỹ nhanh chóng, nên nhiều người học ngành này hơn. 
 À, bà có bao giờ đi du lịch tới Philippines chưa?
Tôi nói:
-   Tôi có đi sang Phi chơi một tuần. Trước khi tôi dọn về vùng này, tôi ở thành phố Chino Hills.  Tôi có bà hàng xóm rất tốt, tên Mia, cũng là người Philippines.  Bà có mấy đứa con trạc tuổi hai đứa con tôi nên đi đâu bà cũng dẫn mấy đứa con tôi theo cho chúng chơi với nhau.  Nhưng bà đã dọn về Manila hơn 15 năm rồi, vì gia đình bà có hãng xưởng, nhà cửa bên ấy. 

 Mấy năm trước tôi có sang Makati thăm bà, được dẫn đi thăm thú những danh lam thắng cảnh ở Manila, và đến nghỉ mát ở căn nhà nằm trong vùng biển riêng biệt phía Nam thành phố. 
 Bà hẹn tôi có dịp nào đi Phi nữa thì hai gia đình sẽ gặp nhau để cùng rong chơi ở bờ biển Boracay cát trắng.  Ông ở đường Oak Cliff hả? 
 Vậy thì tôi cũng ở gần nơi ông đang cư ngụ.  Tôi ở cuối con đường Hidden Valley này thôi, tiếp nối với con đường Oak Cliff đó.  Ông cứ đi hết vòng cung Oak Cliff rồi rẽ sang bên trái là gặp nhà tôi, căn nhà có trồng nhiều hoa hồng nhất con đường.
Hai chúng tôi nói chuyện đến đây thì ông Kim tới.  Tomas xách giỏ lên nói:
-  Hôm nào có thì giờ rảnh tôi sẽ đến nhà bà nói chuyện nhiều hơn.  Chúc bà một ngày làm việc vui vẻ.  

Hôm nay là ngày tôi phải đem những món ăn chơi vào sở.  Tôi đã dậy sớm để chiên chả giò nhân thịt và hoành thánh nhân tôm.
  Còn fortune cookies thì tôi đã mua sẵn ở tiệm bánh Đài Loan từ hôm qua.
  Tôi bỏ riêng hai phần thức ăn và bánh dành cho ông Tomas và ông Kim vào hai cái túi giấy gói thức ăn trưa có in hình ông già Noel vác một túi quà nặng trĩu. 
 Khi tôi ra đến góc đường quen thuộc thì thấy ông Tomas đã đứng đó. 
 Tôi ngừng xe bên này đường, chạy sang đưa cho ông Tomas hai gói giấy, nói ông đưa hộ cho ông Kim một gói và chúc Merry Christmas cả hai người.
   Ông Tomas đưa cho tôi một tấm thiệp Giáng Sinh bảo:
-  Chắc hôm nay là ngày chót tôi gặp bà.  Trưa mai tôi đi Michigan rồi.
Tôi kêu lên:
-  Ông đi sang đó làm gì mùa này?  Chẳng phải ông đã bảo là ông không chịu nổi thời tiết giá lạnh của vùng bên ấy hay sao?
Tomas gật đầu:
-  Đúng là vậy, nhưng tôi chỉ còn có một mùa Đông trên đất Mỹ này thôi.  Tôi sẽ sang Michigan thăm con cháu và ở chơi với chúng nó vài tháng, rồi tôi sẽ về lại Cavite, sống những ngày tháng cuối cùng ở tại quê nhà.  Bà còn nhớ tôi nói là tôi đem một phần tiền về cất lại căn nhà mới trên mảnh đất xưa không? 

 Căn nhà đó từ lâu tôi vẫn nhờ người bà con họ xa coi sóc, nhưng bà ta sắp sang Mỹ với gia đình.  Tôi phải về thôi.  Tôi có một miếng vườn nhỏ, đủ để trồng vài luống rau, nuôi chục con gà, con vịt cho vui. 
 Tôi sống đơn giản lắm, nên tiền hưu ở Mỹ gửi về cũng dư giả, nhất là, tôi không còn phải lo trả tiền thuê nhà nữa.  Tôi sẽ dùng một phần số tiền “thặng dư” này giúp cho đồng bào tôi ở trên miền Bắc Luzon, vùng đất mà bão tố tàn phá mỗi năm, cho những người dân cơ cực có thêm manh quần, tấm áo, chén cơm. 
 Tội nghiệp họ, năm nào cũng thế, chưa kịp thu dọn lại hoang tàn đổ nát đã phải lo đương đầu với tai ương sầm sập đến. 
  Biết khổ mà không làm sao thoát ra khỏi cảnh khổ, vì muốn dời cư sang vùng đất khác đâu phải chuyện dễ dàng!  Ngày nay, tôi được như thế này cũng nhờ ơn trên ưu đãi, san sẻ được cho họ một chút nào là tôi vui chút đó.  Trong tấm thiệp này có ghi địa chỉ của tôi ở Cavite, khi nào có dịp sang Makati thăm Mia thì mời bà ghé đến thăm quê tôi.
Tôi đem tấm thiệp vào sở, mở ra xem.  Tomas viết vỏn vẹn có mấy chữ chúc gia đình tôi những ngày lễ đầm ấm, hạnh phúc. 

 Phần cuối của tấm thiệp là địa chỉ và điện thoại nhà ông ở thành phố Cavite. 
Ngày hôm sau đi làm, theo thói quen, tới chỗ Tomas đứng chờ ông Kim lúc trước tôi vẫn nhìn sang, mặc dù tôi biết ông không còn có mặt ở đó.  

Tự dưng tôi thấy mắt hơi cay, tôi cảm thấy hụt hẫng như mất mát một cái gì. 
 Tôi bỗng nhớ thiết tha tiếng chào “Good Morning” của người bạn buổi sáng.  Không biết có bao giờ tôi được gặp lại ông?  Tomas ơi, tôi chúc ông có được một mùa lễ an bình với nhiều niềm vui, đầy đủ tình yêu thương đầm ấm, và tôi cũng cầu mong ông sẽ có những ngày cuối đời thanh thản ở tại quê hương.
                                      Bảo Trân 

                       @@ Merry Xmas 2012  to  BT!

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Tôi đi Koh Samui - Thái Lan


 Koh Samui là hòn đảo lớn thứ ba của Thái nằm trong vịnh Thailand thuộc tỉnh Surat Thani, địa danh này tôi đã list vào danh sách "must go" từ lâu nhưng cứ chần chừ mãi không thực hiện được bởi đi bằng máy bay thì quá mắc mà đi xe/ tàu rồi đi phà ra thì quá mất thời gian..

Vậy nhưng đã thích rồi mà không đi thì tôi thấy khó chịu lắm! bởi tính tôi ham đi chơi & nói thẳng ra là bị nghiền đi chơi nhác đi làm..
Từ Saigon, tôi bay đến Bangkok lúc nửa đêm... giờ đó không còn tàu về nữa nên tôi phải xếp hàng rồng rắn để chờ public taxi để về khách sạn.

 Đi chơi tiết kiệm là mệt lắm vì chỉ có những chuyến bay đêm mới thường hay có giá rẻ. Cũng vì ham đi mà ít tiền nên tôi lúc nào cũng bay giờ hắc ám là vậy.
 Đến khách sạn check in xong lên phòng tắm rửa là đã 3h sáng. Không cảm thấy mệt vì trên máy bay tôi có tranh thủ chợp mắt & giờ đó đã sắp đến giờ tôi thức dậy rồi nên tôi quyết định không ngủ nữa mà bât tivi coi phim đến sáng hôm sau dậy sớm đi ăn sáng xong dzọt lên phòng lại ngủ đến trưa trả phòng gởi hành lý lang thang đi tìm quán cafe ngồi chờ đến giờ lên tàu ra sân bay đi Samui.
    Từ Bangkok muốn đi Koh Samui chỉ có 2 đường: một là đi máy bay của hãng duy nhất đến Samui là Bangkok Airways với giá khá mắc & chỉ có những chuyến bay ban đêm là giá rẻ hơn đôi chút còn không là bay của hãng khác hay đi tàu lửa, xe bus đến Surat Thani từ đó bắt xe đến bến tàu rồi từ bến tàu đi phà ra đảo Samui mất chừng 2.5h đồng hồ hoặc hơn tùy loại tàu & tùy thời tiết...

.....Khách sạn ở Samui khá mắc. Tùy theo khu vực & tên tuổi, cấp hạng của chúng cũng mắc theo. Koh Samui có nhiều vùng khác nhau. Hòn đảo rộng trên 200km vuông này tôi đã chạy xe máy cả ngày xung quanh đảo cảm nhận nó rộng lắm. 
Tuy nhiên du khách hay tập trung nhất là khu Chaweng, Lamai & Bophut. Chaweng thì y như Kuta ở Bali hay Patong bên Phuket vậy, đó là nơi tập trung nhiều resort, khách sạn & bar pub... nhất, buổi tối thì vui hết cỡ & bãi biển cũng đẹp lắm.
 Khu Lamai có view đẹp hơn cũng là nơi có nhiều resort vách núi hơn & Bophut thì yên bình hơn chút nhưng khu Fisherman's Village của nó về đêm cũng rần rần không kém chi Chaweng cả.
Đến Samui, tôi mướn xe máy theo ngày để chạy. Xe cho mướn ở Thái bây giờ tòan xe đời mới tay ga chứ không còn nhiều xe số nữa. Từ airblade, click đến scoopy hay pcx... xe nào cũng mới toanh & cho mướn giá mỗi ngày là 250-300 baht.
 Đường sá ở Samui tôi thấy không dốc như Phuket hay Bali & chạy đã hơn nhiều vì đường khá tốt. Nếu biết lái xe hơi, tôi nghĩ mướn xe jeep chạy cũng hay nhưng cái khó là phải nhớ chạy bên trái. 
Tôi chạy xe máy lâu lâu quên chạy sang bên phải rồi giật mình khi thấy xe chạy ngược lại mới hết hồn chuyển sang phía kia.
 Mà phải nói người Thái không có thói quan bóp còi inh ỏi nên khi quên chạy ngược bên hay khi dừng lại để lật bản đồ coi đường có đứng chặn đường chạy của người ta nhưng không bị nghe tiếng còi điếc tai mà họ ra dấu chỉ mình chạy sang bên kia cho phải thôi hay tránh vào chút cho họ đi qua thôi!
Tính ra mỗi ngày tôi chạy cũng gần cả trăm cây số, cứ chạy lanh quanh mải miết, trước tiên là chạy đến những nơi tôi search trước trên mạng được cho là những điểm “must see” của Samui như Fisherman’s Village, ngôi chùa có tượng Phật ngồi to cao, ngôi chùa có tượng Phật ngàn tay hay khu bãi đá Hin Ta Hin Yai… rồi sau đó là thích đâu đi đó tùy ý… đường sá dễ chạy, bản đồ có in rõ ràng & nếu có không biết bị lạc gì thì hỏi rồi đi tiếp.

 Cứ vậy mà tôi chạy long vòng, mà ở Samui cũng hay lắm, chạy chút là có những town nhỏ có café, quán ăn, tiệm massage… nên dễ lắm!
 Dọc đường có những nơi cảnh rất đẹp & bãi biển vắng vẻ rất nên thơ. Đi trời nắng nóng nực, gặp biển đẹp nhảy xuống tắm mát xong lên đi tiếp, cứ vậy mà ngày dài qua rất nhanh.Samui là đảo nhưng du khách đến đây họ cũng mua tour đi đảo nữa đó, đó là đi qua Koh Tao nơi biển trong vắt rất đẹp cách Samui gần 2h đi canoe hay đi Koh Phangan cách Samui hơn nữa giờ canoe.
 Koh Phangan là nơi có lễ hội Full Moon nổi tiếng, nếu đến đây vào dịp Full Moon chẳng ai bỏ qua lễ hội náo nhiệt vui nhộn này.
 Koh Phangan cũng có resort khách sạn đủ thứ nhưng bên đảo ấy khá buồn ngoại trừ dịp Full Moon nên hầu như khách ở bên Samui là chính & đi tàu qua Phangan chơi xong quay về.Nghĩ ra tôi cũng rảnh… vì muốn biết tất cả những khu vực chính của Samui nên book khách sạn ở 3 nơi: Bophut, Lamai & Chaweng cho gần một tuần ở đây. Bophut phải nói là yên bình hơn hẳn Chaweng. Buổi tối đường sá vắng hoe, biển thì lúc nào cũng ít người & biển ở đây không đẹp như khu Chaweng nhưng rất lặng & cảnh đẹp. Buổi tối ở khu này tôi chạy ra khu Fisher’s Man Village để ăn tối & xem night life của khu phố nổi tiếng này.
 Chỉ một đoạn đường không dài lắm, đoạn đường bê tong nhỏ như con hẻm bên Vietnam mình nhưng hàng quán hai bên khá nhộn nhịp, 1 bên có view nhìn ra biển, gió thổi mát rượi, ghế bàn xếp dài ra bãi biển cho du khách ngồi vừa nghe nhạc, nghe tiếng song vỗ rì rào vừa ăn uống xôn xao & đặc biệt khu này hay có vụ ngắm hoàng hôn mà du khách rất khoái.
 Tôi có hai đêm ở Bo Phut sau đó dời qua Jungle Club thuộc Chaweng nhưng trên núi cao & cách Lamai cũng không mấy xa.
 Tôi biết đến Jungle Club qua một vài người bạn nước ngoài họ rất thích Jungle Club & giới thiệu tôi nếu đi Samui thì nên ở. Tôi đón xe từ Bo Phut sang Chaweng rồi từ đó đón xe tiếp đi đến ngay đầu đường đoạn rẽ vào Jungle Club gọi điện thoại cho người của Jungle Club chạy xe chuyên dụng của họ ra đón tôi vào.
 Jungle Club là khu nghỉ nhỏ, nói là resort thì chẳng phải vì nó chẳng có facility gì ngoài phòng ngủ & cái hồ bơi. Nằm cheo leo trên núi, xa cách với tất cả những gì ồn ào phía dưới nơi đây giống như cái Whale Island tôi đi hồi năm ngoái vậy. Jungle Club có chừng hơn chục phòng ngủ, nằm trên núi nhìn ra biển Chaweng xa xa.
 Đường lên dốc cao chót vót nên các loại xe thông thường không thể lên được. Trời Samui nắng chang chang, dù có gió biển nhưng vẫn nóng vậy nhưng lên đến đây rồi thì trời mát mẻ hẳn. Tôi khoái nhứt ở đây là không khí yên ả, trong lành, view nhìn ra biển ngoài xa kia xanh ngắt.
 Hồ bơi tuy nhỏ nhưng nằm ở vị trí tuyệt vời nên nó trở nên tài sản vô giá của Jungle. Nhà hàng cũng là bar, café & là quầy tiếp tân là nơi có view đẹp ngất ngây mà tôi phải thốt lên khi vừa đến. 
Những chiếc ghế màu sắc rực rỡ, những chỗ ngồi làm theo kiểu Thái thấp thấp cho du khách ngồi đó ngắm trời ngắm biển bao la yên bình khác hẳn vùng Chaweng ồn ào náo nhiệt. Tuy nhiên chỉ có những ai thích yên tĩnh thì có lẽ mới khoái nơi đây bởi nơi đây chẳng có gì cả… tivi cũng không có, internet cũng hạn chế… buổi tối vắng ngắt lặng yên như tề, muốn đi đâu phải book xe chuyên dụng đưa đi trả tiền chứ không có taxi nào tới đây được.
 Tôi không thích Chaweng vì nó ồn ào quá nhưng biển ở đây phải nói là đẹp, nước trong xanh, cát trắng phau & vô số nhà hàng, bar, resort cũng như hàng rong, cho thuê jetski dày kín khu này.
 Ở khu này du khách đông nghịt, ngày đêm gì ngừơi cũng ngập người khắp nơi & đặc biệt là khi đêm xuống là hàng quán lại lên đèn sang rực, nhạc ầm ầm từ các quán bar, club, pub vang ra… người dày như kiến trên con đường Chaweng nhộn nhịp, các tiệm ăn chưng cá tôm đầy ra thu hút du khách, vô số các tiệm massage đầy nhân viên ngồi phía trước chào mời khách vào thư giãn sau một ngày tắm biển rong chơi…
 Chưa kể là hàng loạt xe quảng cáo cho các show diễn, quán bar, club hay boxing gắn loa, chơi nhạc, panô hai bên chạy lên chạy xuống trên đường làm cho con phố them ngộp thở.
 Nhưng tôi tin là những người trẻ, những ai khoái các hoạt động về đêm sẽ mê mẩn khu này bởi họ có thể ăn chơi suốt đêm đến mãi sang sớm hôm sau. Ăn uống ở đây thì cũng dễ lắm, món Thái, món Tây Tàu fastfood gì cũng có hết… từ rẻ đến mắc giá cả có sẵn hết nên chẳng lo chém chặt gì, cứ liệu túi tiền mình mà vào nhà hàng thích hợp & gọi những món ăn thích hợp.
 Khoái nhất người Thái ở chỗ buôn bán luôn than thiện, không có chém chặt cũng chẳng mặt nặng mặt nhẹ khi mình vào quán sang mà chỉ ăn vài món bình dân rẻ tiền thôi.Samui rộng lớn, Samui náo nhiệt… cái gì cũng có & với tôi thì Samui là đẹp, là thân thiện là đầy quyến rũ & có lắm thứ để thăm chơi.
 Dĩ nhiên là tôi rất hài long với chuyến đi của mình nhưng nếu so với Boracay, Bali thì tôi có vẻ lại thiên vị cho Boracay & Bali hơn hòn đảo rộng lớn của Thái này có lẽ bởi vì Samui nặng về “du lịch” quá & Samui cứ na ná như Phuket chứ không có nét riêng để nhớ về nó như Boracay, Bali hay hòn đảo nhỏ Koh Samed… cũng có khi rằng phải chăng Samui quá ồn ào & xô bồ đối với một người già như tôi?
                                  hangnt
                           @@ tks for sharing !

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Một thời Velosolex


  Trong những hình ảnh được lưu lại của Sài Gòn năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.
Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt.

 Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái.
Ðộng cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ xát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng.

 Người sử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe.
Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người sử dụng phải đạp phụ.
Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ sử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.
Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ.
Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân”.
Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc.
Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Sài Gòn ra.
Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì sử dụng chiếc Velosolex.

Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000.

  Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ.
Khác hẳn với các thành phố lớn như Sài Gòn, Ðà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.
Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần.

Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Sài Gòn, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân-Gia Ðịnh đến Sở Thú - Sài Gòn mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về.

Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua một chiếc Velosolex!
Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%.

Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Ðỗ Cung làm tổng cục tiếp tế.
 

 Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Ðức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa.
Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ấn Ðộ, Ðài Loan, Brazil, Columbia... và có tuổi thọ khá dài.

  Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck's trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday,) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó.
Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi găng tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay là hình ảnh dễ thương của Sài Gòn, của một thời sinh viên đẹp đẽ. 

 Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các loại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.
 Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời
Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Sài Gòn trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961.
Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần.
Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao.

Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo.

Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!
Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:

“Quay đều, quay đều, quay đều, mối tình ngày xưa yêu dấu
Quay đều, quay đều, quay đều, thương hoài những vòng xe...”


                                  
Huy Phương

                                  @@ tks t.g !!

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Bánh ngọt của người Nhật


Trong những năm 1930, kỹ thuật làm bánh ngọt của người Nhật đã phát triển mạnh mẽ.
 Từ những loại bánh ngọt mang đậm chất phương Tây, người Nhật đã sáng tạo những nét riêng từ nguyên liệu chế biến đến cách trình bày để cho ra đời loại bánh mới mà họ gọi là bánh ngọt Nhật Bản theo kiểu phương Tây.
Bánh Baumkuchen có nguồn gốc từ Đức, nó được làm từ bơ, trứng, đường, vani, muối và bột mì.
 Trong tiếng Đức, Baumkuchen có nghĩa là bánh khúc gỗ. 
Người Nhật rất thích loại bánh này vì nó mềm và thơm ngon.Người mang bánh Baumkuchen đến Nhật Bản lần đầu tiên là Karl Juchheim, một công dân Đức.
 Juchheim là nhà làm bánh kẹo, vào đầu những năm 1910, chàng thanh niên ngoài 20 tuổi này cùng vợ đến thành phố Thanh Đảo của Trung Quốc để kinh doanh.
Vào năm 1914, đó cũng là giai đoạn xảy ra Chiến tranh Thế giới Thứ 1, quân đội Nhật Bản và Anh đã chiếm được căn cứ hải quân ở Thanh Đảo của Đức.
 Gia đình Juchheim được đưa đến Nhật Bản như là tù nhân chiến tranh.
Sau khi chiến tranh kết thúc, Juchheim quyết định cùng gia đình định cư tại Nhật.
 Năm 1921, ông mở cửa hàng bánh ngọt ở thành phố Yokohama.
Juchheim trong vai trò là thợ làm bánh chính của cửa hàng, trong khi nhân viên giúp việc hầu hết là người Nhật.Tại cửa hàng mới này, Juchheim bắt tay vào làm bánh Baumkuchen, vốn được mệnh danh là vua của các loại bánh.
 Theo cách làm truyền thống, bột bánh được phết đều lên thanh kim loại dài đang quay liên tục trên lò nướng, lớp bột này chín thì lớp bột tiếp theo lại được quét đều lên. Cứ như thế đến khi lớp bánh cuối cùng bên ngoài chính vàng. Nhiều lớp bột bánh nối tiếp nhau tạo thành những vân hình tròn như vân gỗ nên bánh Baumkuchen được gọi là bánh khúc gỗ.
Khi công việc kinh doanh của cửa hàng thuận lợi, thì cũng là lúc xảy ra biến cố.
 Vào ngày 1/9/1923, trận động đất lịch sử có tên gọi Đại Kanto mạnh 7,9 độ richter đã phá hủy nhiều phần của thủ đô Tokyo và thành phố cảng Yokohama. 
Cửa hàng bánh của gia đình Juchheim cũng chịu chung số phận.Sau thảm họa đau buồn đó, vợ chồng Juchheim dời đến thành phố Kobe, họ mượn một số tiền lớn từ bạn bè và người thân để mở cửa hàng bánh ngọt mới.
Cửa hàng mới rất thành công, nó được nhiều người biết đến chỉ sau 1 thời gian ngắn hoạt động.
  Bánh ngọt khúc gỗ Baumkuchen tiếp tục là mặt hàng chủ lực của cửa hàng.
Khi nhu cầu thị trường quá lớn, cửa hàng buộc phải tăng sản lượng và do bánh được làm theo cách thủ công truyền thống nên thợ làm bánh phải làm việc cật lực.
Việc đánh hỗn hợp bột mì cùng các nguyên liệu khác đều làm bằng tay, người thợ phải buộc chặt tay vào cây chổi đánh bột để tạo ra một thứ bột mịn theo yêu cầu khắt khe của ông chủ cửa hàng.
 Juchheim quan niệm rằng chỉ khi nào khâu chuẩn bị nguyên liệu được thực hiện một cách nghiêm túc thì sản phẩm cuối cùng làm ra mới đạt chất lượng.
Với tâm huyết của một người làm bánh chuyên nghiệp là luôn tạo ra những chiếc bánh ngon nhất, hoàn hảo nhất, chẳng bao lâu sau, cửa hàng của gia đình Juchheim trở thành địa chỉ kinh doanh bánh ngọt danh tiếng nhất Kobe.
Khi công việc làm ăn của cửa hàng đang hanh thông thì Chiến tranh Thế giới thứ 2 nổ ra, Nhật Bản là một trong những quốc gia chủ chốt trong cuộc chiến này.
 Những năm đầu chiến tranh, cửa hàng bánh của ông Juchheim vẫn hoạt động nhưng nhiều nhân viên của cửa hàng bị buộc phải nhập ngũ.
Đến năm 1944, cuộc chiến lên đến cao trào, thành phố Kobe là mục tiêu của các vụ tấn công. Cửa hàng bánh của Juchheim ngưng hoạt động và đóng cửa do không còn khả năng sản xuất.
 Karl Juchheim mất vào ngày 14 tháng 8 năm 1945, chỉ 1 ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng quân đồng minh, đánh dấu thời điểm kết thúc chiến tranh.
Cuộc chiến đã đi qua, là một quốc gia bại trận, nước Nhật bị tổn thất nặng nề. 
Vượt qua khó khăn, người Nhật từng bước khôi phục đất nước của họ. Sau một thời gian quay về Đức, vào những năm 1950, vợ của nhà kinh doanh bánh ngọt quá cố Juchheim trở lại Nhật Bản để mở rộng thương hiệu của chồng. Bà thành lập công ty bánh ngọt Juchheim ở Kobe.
Hơn nửa thế kỷ qua, công ty vẫn tuân thủ những quy tắc làm bánh Baumkuchen truyền thống của Đức.
 Hiện nay, bánh Baumkuchen của công ty này nằm trong số các loại bánh ngọt được ưa chuộng nhất tại Nhật.
 Sự nghiêm khắc và tâm huyết của Karl Juchheim đã giúp thực khách Nhật Bản được thưởng thức những tinh túy của Baumkuchen, vốn được mệnh danh là vua của các loại bánh. Doanh thu hàng năm hiện nay của bánh Baumkuchen tại Nhật khoảng $  345 triệu đôla Mỹ.
Khi nhu cầu của con người không dừng lại ở ăn ngon nữa mà hướng tới yếu tố thẩm mỹ thì thế giới của những chiếc bánh ngọt cũng biến tấu không ngừng. 
Với những thành phần chính là đường, chocolat  và trứng, những chiếc bánh đã và đang góp phần giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên ngọt ngào hơn.

                                    Thanh Tâm