Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Lic̣h Sử Chiếc Áo Dài Việtnam


Theo tài liệu thu thập được thì hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường là người đầu tiên đã cải tiến chiếc áo dài cho phụ nữ Việt Nam. Ông sinh năm 1912 tại Sơn Tây. Năm 17 tuổi, ông trúng tuyển vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội và tốt nghiệp vào năm 1934.  
Ông là người đã đóng góp rất nhiều trong việc sáng chế các kiểu quần áo cho phụ nữ Việt Nam. 
Vào đầu thập niên 1930, chiếc áo dài thuần tuý của Việt Nam bắt đầu thay đổi, giới phụ nữ bắt đầu mặc áo mầu và năm 1934, hoạ sĩ Cát Tường đã tung ra một loạt các loại mẫu áo dài tân thời trong tập san Đẹp 1934 và báo Phong Hoá thời bấy giờ, dưới cái tên “Lemur”.
 Sau đó, ông tiếp tục thiết kế nhiều mẫu áo dài cho phụ nữ, nữ sinh và áo ngắn mặc trong nhà. 
 Ngoài chuyện cải tiến áo dài cho phụ nữ, và đóng góp vào việc thiết kế các kiểu y phục thích hợp với thân hình, lại làm tăng vẻ đẹp của phái nữ, hoạ sĩ Cát Tường còn cải tiến và mỹ thuật hoá chiếc xích lô đạp thời bấy giờ và được dân chúng ủng hộ nhiệt tình.
Mặc dù họa sĩ đã ra đi một cách bất ngờ gần 75 năm trước, nhưng bóng dáng của chiếc áo dài mà hoạ sĩ tài ba Cát Tường thiết kế vẫn tiếp tục xuất hiện tại Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới.
 Tà áo dài tha thướt, nhã nhặn, kín đáo và duyên dáng làm tăng thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, và là niềm hãnh diện cho người Việt.
Những chiếc áo dài đầu tiên.
Từ Los Angeles, California, nhiếp ảnh gia Nguyễn Trọng Hiến, người con trai của hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường kể về chiếc áo dài của phụ nữ ngày xưa:
Màu của nó u tối, chỉ có mầu nâu hay màu đen. Áo lùng thùng, ba bốn tà, quần thì rộng. Sự đổi mới của Việt Nam lúc đó bắt đầu có trong Nam. Ngoài Bắc thì hay mặc mầu nâu, màu đen, trong Nam thì có những lối mặc khác, áo thì màu khác, nhưng thường thường thì màu vẫn không được tươi lắm.
 Khi ông Cát Tường bắt đầu vẽ y phục cho phụ nữ, thì ông nhận thấy quần là cái quan trọng nhất. 
 Nó phải bó sát mông, xuống đùi hơi rộng và gấu quần hơi loe ra một chút để khi đi, dáng được tha thướt… 
 Sau đó, lưng quần dùng dây chun để cho máu được lưu thông, mình kéo lên hay kéo xuống rất tiện. 
Cái áo dài thì tuỳ muà, mùa đông thì cần phải che kín cổ, muà hè thì bật để cho mát.
 Vai áo bó chặt quá thì người đàn bà không thể giơ tay lên được, nên vai áo phải làm hơi rộng một chút, tay thì vẫn thon lại…
Màu sắc thì chủ trương tùy theo màu da, màu tóc hay khung cảnh thời tiết. 
Thí dụ mùa hè đừng nên mặc áo chói chang quá, nên chọn màu nhẹ.Tôi đi chụp hình ở Việt Nam cũng nhiều, từ Bắc đến Nam, các em đi học mặc áo dài, cầu Trường Tiền hay tỉnh Bạc Liêu, các em mặc áo dài nhiều lắm. Bây giờ, các ngày lễ lớn, áo dài trở thành một quốc phục.

 Phụ nữ bây giờ độc lập lắm, họ muốn quần áo của họ phải hợp thời trang tăng vẻ đẹp, và đi dộng dễ dàng. 
Còn áo dài của mình tương đối còn tha thướt và yểu điệu quá… 
Tết là một trong những dịp mà khách hàng đến rất nhiều. 
Thương hiệu của tôi là chuyên về áo dài, mỗi lần Tết hình như là mọi người muốn quay về cội nguồn, kể cả nam nữa, thế hệ trẻ bây giờ tụi nó cũng lại để mua áo dài nam nữa.
Điều đáng mừng là mọi người, nhiều lứa tuổi, mặc áo dài nhiều…Nói chung, mình thấy văn hoá của mình không bị mai một, mà gần như lớp trẻ cũng hiểu biết thêm về cội nguồn của mình và trong ngày Tết thì ưu tiên cho trang phục quốc phục của mình nhiều hơn…Trong ngày Tết thì mọi người chọn một bộ truyền thống.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Trọng Hiến, con trai của họa sĩ Cát Tường năm xưa, cho rằng hiện nay, một số nhà thiết kế thời trang vì chú ý đến cái lạ của bộ y phục áo dài, nên phần nào làm mất đi nét đẹp duyên dáng của phụ nữ, ông phát biểu:

Người thiết kế phải biết vẻ đẹp của phụ nữ và phải làm sao tôn được vẻ đẹp, cái nét mềm mại của phụ nữ phải được đưa lên.
 Thí dụ, tà áo dài khi gió phớt qua, thì người ta gọi là đón gió, tức là mình thấy tha thướt, hoặc là tia nắng chiếu vào áo lụa Hà Đông, làm cho các thi sĩ bật ra các vần thơ, tất cả những chuyện đó là chiếc áo dài đón gió, đón nắng, làm cho người phụ nữ trở thành một huyền thoại, nhập vào tim óc của người xem…tất cả biểu hiện một cách thanh tao…
Ý kiến này của ông đựơc khá nhiều người chia sẻ. 
Thực vậy, chắc qúi vị cũng đồng ý với Phương Anh rằng, phụ nữ Việt Nam dù ở bất cứ tuổi nào, dù ở bất cứ nơi nào, hoàn cảnh nào, khi khoác lên mình chiếc áo dài, thì vẻ đẹp luôn được tăng lên, hơn nữa, đó lại là một y phục truyền thống, nên Phương Anh tin rằng dù ít còn thấy xuất hiện trong đời sống hàng ngày, nhưng chiếc áo dài sẽ không bao giờ mất đi, như hy vọng của nhiếp ảnh gia Nguyễn Trọng Hiến
 P.Anh-RFA

                            

                        

Jacquelyn Ngô -Thần Đồng Họa Sĩ Tại Úc


 Jacquelyn Ngô -Thần Đồng Họa Sĩ Tại Úc 6 tuổi-2011

Phòng triển lãm của thành phố này đã trưng bày 30 tác phẩm hội họa của một nữ họa sĩ mới 6 tuổi gốc Việt, tên là Jacquelyn NGÔ, do thị trưởng Wendy Waller đích thân khai mạc, vào tuần lễ đầu 12/ 2010.
“ Tôi đã được thưởng thức hằng trăm bức họa nhỏ của cô bé trước khi cô sáng tác ra hàng ngàn bức lớn hơn!”
Người tổ chức cuộc triển lãm này, Steven Alderton, giám đốc của trung tâm nghệ thuật Casula Powerhouse Arts Centre, cho biết.
Ông cũng tiết lộ rằng họa sĩ Jacquelyn NGÔ vẫn chỉ muốn lưu giữ các họa phẩm của cô, mặc dù một trong các bức ấy có thể bán đuợc giá tới cả $1000 dollar trong buổi triển lãm mang tên :""Through Young Eyes"" này.
Cách đây vài tháng, khi nữ họa sĩ NGÔ đọat giải Liverpool City Art Prize cho hạn tuổi thiếu nhi, ông Alderton đã tìm hiểu tài năng hội họa của cô.

Ông đã tự thú nhận rằng ban đầu ông nghi ngờ, những họa phẩm ấy không có thể được sáng tác từ một họa sĩ còn con nít như thế.
Nên ông đã gửi một chuyên gia nghê thuật đến tận mắt chứng kiến Jacquelyn vẽ tranh trong 2 hr 30'.
Và bây giờ, trong khi xúc tiến tổ chức cuộc triển lãm này, Alderton hết lời ngợi ca:
“ Cô ta có một khả năng vẽ rất là tươi mới, sống động
Mầu sắc tươi sáng và tràn đầy sức sống.., bạn có thể nhận ngay được cái tươi trẻ hiển hịên trên tấm tranh…”“



Vài người có tài thiên phú”Alderton phát biểu tiếp,
“Mozart ngay từ tuổi nhỏ đã thuộc nằm lòng những nốt trên phím dương cầm”
Do nghệ sĩ Trong Nhon Do hướng dẫn, Jacquelyn còn thuần thực chơi dương cầm nữa
. Nhưng hứng khởi về ngành vẽ thì trôi hơn hẳn.
 “ Tôi vẽ mọi thứ” Jacquelyn thổ lộ,
“Tôi cứ vẽ, vẽ người, vẽ vật, vẽ phong cảnh”.

Thu Ngô , người cô của Jacquelyn tiết lộ,gia đình đã biết đến tài vẽ của cháu khi Jacquelyn mới lên 3 tuổi.“
Cháu nó đã bắt đầu vẽ như thế từ lúc ấy.
Và những tấm phác họa của Jacquelyn hồi đó đã tuyệt vời, đến độ (chúng tôi ) chứng kiến Jacquelyn vẽ mà vẫn không nghĩ đấy thực sự là tác phẩm của cháu nó nữa!”
Được hỏi là có muốn trở nên một họa sĩ không, Jacquelyn trả lời:
- “ Tôi nghĩ vậy.”
Alderton tin tưởng Jacquelyn đang có một nghề nghiệp sẵn cho cô và có thể dễ dàng nổi tiếng, đọat những giải quốc tế về hội họa ở Úc, như các giải Archibald hay Moran Prize.
“ Acclaim for young at art”
2011
by  Andrew Taylor,The Sydney Morning Herald


 

Hoa Ve Chai Trên Đất Mỹ


Mọi người thường cho Tạo nói bông đùa khi trả lời về nghề nghiệp mình, nhưng Tạo trả lời rất chân tình vì mình là người sống bằng nghề buôn bán ve chai trên đất Mỹ.
Nhắc đến hai chữ ve chai, người Việt nào cũng liên tưởng đến hình ảnh những "chú ba" quảy đôi quang gánh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, rao tìm mua hầm bà lằng nào nồi niêu xoong chảo hư lủng móp méo không còn dùng được nữa, rồi cả ve chai lông vịt...
 Nhiều người còn đi xa hơn, liên tưởng đến chú Hỏa ngày xưa, từ bên nước "Đàn anh Trung Quốc" xuôi nam lập nghiệp tại Việt nam bằng gánh ve chai, tiến dần lên thành một trong những người giàu có nhất, với bao nhiêu cơ ngơi để lại cho đến ngày hôm nay.
Tạo vào nghề ve chai trên đất Mỹ hết sức tình cờ, như một định mệnh, không chủ đích trước.
 Chỉ hơn một năm sau ngày định cư, Tạo đã bắt được cái "job" tương đối thơm tho trong một hãng sản xuất cơ phận cho ngành hàng không và không gian.
 Công việc ấy đã cho Tạo một cuộc sống tuy không giàu có nhưng thật an nhàn.
 Nhưng đời mấy ai học được chữ ngờ, cuộc sống đang phẳng lặng đột nhiên nổi sóng. Sau gần 15 năm gắn bó với hãng, Tạo bị cho nghỉ việc (lay off). Khi hay tin Tạo mất việc, anh bạn thân đã chia xẻ niềm đau "hơn bị bò đá" bằng một câu phán:
-Thời buổi kinh tế xuống dốc, còn đi làm mới là chuyện lạ đời, bị cho nghỉ việc là việc bình thường, phải sống cho giống như mọi người chứ!
Lời nói chơi tuy hơi nghịch nhĩ, nhưng nghĩ kỹ lại nó biểu tượng cho một nếp sống Mỹ rất trung thực. "Không ăn hamburger, không hiểu và xem football, không thấm được nỗi buồn lay off là chưa từng sống ở Mỹ."
Cũng nhờ câu ấy mà Tạo vơi sầu. Thế rồi rút hầu bao có bao nhiêu tiền ki cóp, Tạo đem ra hùn hạp mở một garage sửa xe. Những người chung vốn đều có tay nghề giỏi, garage lại nằm nơi thị tứ đông dân cư, nên khách hàng tấp nập.
Nhìn bề ngoài ai cũng nghĩ chủ nhân gặp thời sắp giàu to, nhưng thấy vậy chứ không phải vậy. Vì yếu kém trong việc quản trị, nên tháng nào cũng lo tiền thợ, tiền mua hàng thiếu chịu muốn bá thở.
 Không lỗ lã là may lắm rồi, nhưng nhờ đó Tạo học được nhiều bài học quý giá để dấn bước vào thương trường.
Toàn, một ông bạn phốp pháp gốc gác "chú ba" nên Tạo đặt cho cái tên Chú Thoòng, nhìn sự "phồn vinh giả tạo" của tiệm sửa xe, rất khâm phục Tạo, mon men lại dò hỏi xem có việc gì cho ông ta làm chung. 
Ông bạn này cũng đang lãnh lương theo diện "bảy nghề", xe cộ nhà cửa cũng đang được nhà băng chiếu cố. 
Tạo chẳng biết nói gì hơn là cho ông toa thuốc "cố gắng" và ráng nín thở qua sông, sống cho qua hết thời buổi kinh tế lụn bại này.
Tạo có người bạn xông pha thương trường ngay từ ngày đến Mỹ, nhờ vậy nội công rất thâm hậu. Minh, tên bạn, cũng là nơi Tạo trút những phiền toái khó khăn của tiệm sửa xe, để được nghe lời mách nước miễn phí.
Trong thời kỳ nhà cửa đất đai lên giá vù vù, Minh tậu được một khu đất khá to, và đặt nhiều hy vọng trên mảnh đất ấy. 
Bỏ ra bao nhiêu tiền xin hết dự án này đến dự án khác đều không được chấp thuận, cuối cùng có một người gốc Ả Rập đến hỏi thuê mở “recycling” với một giá rẻ mạt.
 Minh cho thuê để nhẹ bớt tiền trả lời hàng tháng. Cơ sở mở ra, nhưng buôn bán không mấy khấm khá, phải đóng cửa trả lại đất cho Minh. Nghĩ đến bạn, không mấy thích hợp trong nghề sửa xe, nên Minh bàn cùng Tạo mở lại recycling trên mảnh đất ấy.
 Tạo đâu biết chi về nghề nghiệp này, nhưng nghĩ đến chú Thoòng mà làm nghề này thì còn ai thích hợp hơn. Trong thời kỳ huy hoàng ông từng một thời làm chủ cây xăng nên có chút "kinh nghiệm chiến trường". 
Khi Tạo ngỏ lời, chú Thoòng mừng hết lớn và Tạo có người cộng tác ngay.
Nghĩ ngợi mãi không biết "chuyển âm" chữ recycling thế nào, nên một hôm gặp một ông chủ báo đến sửa xe, Tạo lợi dụng ngay.
- Nhờ ông dịch dùm chữ recycling, vì tôi sắp nhảy vào nghề này.
Ngẫm nghĩ một lúc ông bảo:
-Tái biến chế.
-Tiếng gì mà sao giống như họ hàng của Tái Côn Lôn trong Nhục bồ đoàn vậy, lại toàn chữ Hán Việt, làm phúc tìm dùm chữ nào dễ hơn đi ông.
Tạo và ông đều vò đầu vỗ trán, nhưng chẳng tìm được chữ nào thích hợp. Đột nhiên một chữ chạy qua đầu, và Tạo đề nghị cùng ông nhà báo.
-Hay là đặt ve chai lông vịt đi ông, nhưng mình không mua lông vịt thì xài chữ ve chai thôi, ông nghĩ có chỉnh không"
Thế là Tạo thành chủ "Vựa ve chai" cùng với chú Thoòng từ đó. Ở Mỹ, mọi tên riêng, từ tên tiệm đến tên người, đọc xong bao giờ cũng phải đánh vần thì người nghe mới viết đúng được.
 Nghĩ tới nghĩ lui để chọn một cái tên cho vựa, cuối cùng vựa mang tên ABC, với tên này không còn ai bắt mình đánh vần nữa vì mình đánh vần trước khi họ hỏi.
Thời gian qua mau, mới ngày nào mà nay vựa ve chai đã hơn 7 tuổi, với biết bao vui buồn, Tạo ghi lại đây một vài niềm vui nỗi buồn sinh ra từ đống ve chai, đồng nhôm sắt vụn ấy.
Một hôm nhìn đoàn xe đẩy của các chợ (shopping cart) hùng dũng tiến vào vựa ve chai, Tạo nổi hứng phong cho chú Thoòng làm bang chủ Cái Bang đời thứ 101. Nếu đem Hồng Thất Công, một bang chủ giỏi nhất trong lịch sử võ hiệp Cái bang mà so với chú Thoòng đương kim bang chủ, thì chú Thoòng hơn rất xa.
 Đệ tử dưới trướng Hồng Thất Công trước đây chỉ toàn là Hán tộc. 
Đến đời Chú Thoòng bang chủ đã gồm thâu được mọi chủng tộc, từ khắp năm châu bốn biển quy phục dưới trướng.
Ngày xưa, cao trọng nhất sau bang chủ là hạng đệ tử 8 túi, 8 túi ngày xưa thì làm sao so với hàng chục bao thật lớn được treo lủng lẳng chung quanh các xe của chợ hàng ngày được bang chúng đẩy đến cho Thoòng bang chủ.
Nói bá láp một chút, chớ làm nghề buôn bán ve chai này, hàng ngày tiếp xúc với khoảng 5% khách hàng thuộc thành phần vô gia cư (homeless), Tạo không khỏi bùi ngùi xúc động. Năm ba đồng, một hai chục bạc bán được từ những lon nhôm, lon nhựa, chai lọ... mà họ nhặt được trên đường hay moi ra từ những thùng rác, chỉ đủ lo miếng ăn. 
Đêm xuống, họ chọn những mái hiên nhà thờ, hay dưới tàng cây làm nơi trú qua đêm. 
Vì vậy nơi rửa tay cho khách, đôi khi biến thành chỗ tắm giặt cho những kẻ khốn cùng này. Người Việt mình, Tạo chưa thấy có trong thành phần vô gia cư.
Đôi khi bận rộn, con cái trong nhà cũng ra vựa để phụ giúp Tạo. Trong bữa ăn từ biệt Việt, đứa con trai út qua New York học, Việt đã chia sẻ với mọi người trong gia đình nguyên nhân nào thúc đẩy Việt ghi tên theo học nha khoa.
- Những ngày làm ở vựa ve chai, con thấy được những nụ cười của người homeless, răng cỏ họ "vàng úa trống vắng". Con hy vọng nếu trở thành nha sĩ biết đâu sẽ giữ lại cho họ vài cái răng để nhai pizza hay hog dog và nụ cười tươi tắn trên môi.
Tạo chúc mộng ước của Việt sớm thực hiện được, để đền trả phần nào cái nợ quá to lớn của đất nước và dân tộc này đã cho gia đình Tạo.
Ngoài những nụ cười "vàng úa trống vắng", Việt còn thấy những đôi tay đầy cáu bẩn sung sướng đếm đi đếm lại từng đồng penny, từng đồng dime, từng đồng quarter. . 
. Đôi tay họ cáu bẩn, nhưng họ cầm những đồng tiền thật sạch, đồng tiền được tạo ra bằng chính sự khổ cực của mình. Tâm sự với họ, Tạo thấy được không phải chỉ quê hương mình mới khổ đau, mà dường như bất cứ một sắc dân nào, đến lập lại cuộc đời nơi đây, đều cùng chung một nỗi ưu tư là kẻ ra đi lo cho người ở lại. Mỗi một người khách mang hàng đến bán, lắng nghe được tâm tư sâu kín của họ Tạo không tránh khỏi xúc động bồi hồi.
Một ông khách đã ngoài 70 người Ethiopia, sống một mình, hàng ngày đi lượm lon kiếm tiền gởi về quê lo cho gia đình vợ con làng nước. Ông là khách đến vựa hàng ngày, thu nhập mỗi ngày khoảng 25 đồng. Bẵng đi một thời gian không thấy ông lui tới. 

 Hỏi thăm mới hay, trong lúc đẩy xe chợ đi lượm "ve chai", xe bị trượt bánh trên đường dốc, sức xe quá nặng, sức già yếu đuối ngã xuống, đầu va vào lề đường bị nứt sọ, phải nằm nhà thương cả tháng trời.
Ngày ông quay lại vựa, Tạo nhìn ông không ra vì ông quá ốm yếu. Chiếc xe chợ của ông từ nay và những ngày sắp tới sẽ chẳng bao giờ còn được đầy tràn như xưa. Không biết nơi quê nhà vợ con có hay biết và thương tâm cho hoàn cảnh ông không.
 Nhưng Tạo tin chắc một điều món tiền gởi về hàng tháng sẽ còm cõi đi, biết đâu ông lại nhận được đôi lời trách khéo, ông quên cội quên nguồn.
Để mừng ông sống lại, vợ chồng Tạo mời ông dùng cơm tối, và kết bạn cùng ông. Lẽ sống của ông là tạo niềm vui cho người khác, ông đã cho cả gia đình Tạo một bài học quý giá về ban phát tình thương và nghĩ đến tha nhân.
Tạo có anh công nhân trẻ người Mễ, không biết một chữ tiếng Anh, nhưng làm việc hết sức siêng năng cần mẫn. Lương ve chai nào được là bao, lo cho mình còn chưa đủ huống chi còn cả một dòng họ nơi quê nhà.
 Có công ăn việc làm nhưng anh cũng trở thành kẻ vô gia cư, làm được bao nhiêu tiền anh gởi hết về nhà.
 Nơi ngủ của anh là lòng chiếc xe van mà một người bạn cho ngủ nhờ.
 Ăn thì bữa cái taco, bữa cái borritto, ngon lắm được bữa pizza trong những ngày đông khách được chủ cho thêm tí tiền "bồi dưỡng", nước uống và tắm rửa thì ra cái vòi phía sau vựa ve chai.
 Một ngày có tin cảnh sát tìm kiếm anh.
 Thì ra vì nhu cầu nơi quê nhà quá lớn, lương anh dù đã gởi gần hết về nhà, gia đình vẫn than túng thiếu. Muốn có tiền nhiều và nhanh, anh lạc vào đường bán ma túy. Hay tin cảnh sát truy lùng, sợ hãi, anh trốn về Mễ. Tạo mất đi một người thợ tốt, nhưng không biết giờ này cuộc sống anh công nhân trẻ ra sao"
Còn với khách Việt, Tạo cùng chú Thoòng có được nhiều tình thân qua chuyện buôn bán, càng dễ chia sẻ hơn qua tình đồng hương và cùng chung ngôn ngữ.
 Nhờ vậy Tạo thấu hiểu được nhiều nỗi thương cảm, xót xa, cao thượng... chung quanh vựa ve chai này.
Có mấy ai ở quê nhà biết được mẹ cha mình sang Mỹ, phải moi ra từ trong thùng rác, để tìm từng xu từng cắc, ăn uống dè xẻn, ở đậu trong garare... để có bạc trăm bạc nghìn gởi về lo cho con cái cũng như cứu trợ đồng bào thiên tai nghèo khổ bên nhà.
Trong đống ve chai, trong đám đồng thau phế thải, đã nở lên trăm ngàn đóa hoa muôn sắc về "tình ruột thịt nghĩa đồng bào", làm át đi mùi tanh tưởi của những phế liệu. Tạo bắt chước nhạc sĩ Trần thiện Thanh đặt cho loài hoa ấy cái tên "Hoa ve chai".
 Loài hoa này không may mắn như Hoa trinh nữ được quân vương sủng ái, không lên ngôi hoàng hậu, nhưng thắm đượm tình người, tình yêu thương đồng bào dân tộc. Với khả năng hạn hẹp, Tạo không đủ sức diễn tả hết những thắm tươi, cao đẹp của loài hoa mà Tạo ngắm nghía suốt bảy năm nay. Tạo ngắt một cành "Hoa ve chai" trong hàng trăm đóa hoa nở rộ, gởi đến người bạn, một linh mục khả kính trong ngày đầu xuân.
. . .

Kính gởi
Linh mục Trần thanh Tùng
Kính thưa Cha.
Rất cảm động khi nhận được điện thoại chúc tết của cha từ bên kia bờ Đại Tây Dương. Thêm một lần nữa, cầu xin Thiên Chúa ban nhiều hồng ân xuống cho cha trong năm mới này. Từ nay chúng ta đã có nhiều phương tiện truyền thông hiện đại để liên lạc cùng nhau.
 Hy vọng sẽ kết chặt thêm tình thân, rồi từ đó chia xẻ những vui buồn các việc Chúa cũng như việc đời trong thời gian sống xa quê hương. Mong rằng chúng ta sẽ làm được vài điều để vinh danh Chúa, để giúp người dân Việt nghèo khổ có cơ hội vươn lên.
Hôm nay con xin kể hầu cha một câu chuyện, cũng tương tự như câu chuyện con kể lúc đi dạo dọc theo bãi biển gần khách sạn Coronado Del, một khách sạn to lớn và sang trọng nhất của thành phố San Diego. 


Vài tuần sau khi cha rời San Diego, vợ chồng con có dịp trở lại xem lễ tại nhà thờ đường 42.
 Phía trên vài hàng ghế, con thấy một người đàn bà đứng tuổi phúc hậu gọn ghẽ trong chiếc áo dài màu xanh nhạt, gương mặt hơi quen quen. 
Nghĩ một lát, mới nhớ ra đó chính là bà Phong, bà chủ nhà đãi cơm trưa chúng mình trong ngày đầu cha đến San Diego. Cạnh bên bà, một người đàn ông tóc hoa râm, có lẽ là chồng bà Phong, ông quạt luôn tay cho vợ để xua bớt đi cái nóng buổi trưa hè. Thánh lễ xong, mặt đối mặt con mới nhận ra ông ta cũng là chỗ quen biết. 
Sở dĩ con nhận không ra ngay vì hôm ấy với quần áo tươm tất gọn ghẽ, khác xa với những lần thường gặp. 
Thưa cha, ông Phong chính là người khách hàng ngày đến bán những lon chai nước ngọt, lon bia, giấy báo. . . cho vựa ve chai của con.
 Những lúc vắng khách, anh em cũng nói đôi ba câu chuyện về quê hương về giáo hội khi biết ông cùng là người Công giáo. Hàng ngày cầm trao ông đôi ba chục bạc, tiền công của cả một ngày lao động cực nhọc, con thường ân cần vui vẻ săn sóc ông, đôi lúc giúp ông lựa chai nhôm, chai nhựa, chai thủy tinh... để tránh cho ông những mặc cảm.
Khi nhận ra được ông là ai, thì hình ảnh ba trăm đồng bạc mà bà Phong gom góp được trong gia đình, trao cha chuyển về quê nhà để đóng góp xây dựng việc Chúa, con thấy nó cao cả và quý hóa quá.
 Làm thế nào để những người thụ hưởng món tiền ấy thấu hiểu hết được ý nghĩa của nó, làm thế nào để cân đo được sự nặng nhẹ của đồng tiền trong khi mọi người chỉ nhìn vào những con số không hồn"
Nhìn những người về thăm quê hương, giúp đỡ họ hàng thân tộc bạn bè hay những công việc xã hội, ai cũng nghĩ rằng tiền bạc bên trời Tây rất dễ kiếm.
 Biết đâu được rằng, để có những đồng tiền ấy, cả vợ chồng con cái phải ngồi thật nhiều giờ bên bàn máy may gia công, phải dũa hàng ngàn bàn chân bàn tay cho khách.
 Hoặc như ông Phong kia, mỗi sáng phải moi móc từng thùng rác để kiếm được cái lon cái chai mang bán kiếm sống qua ngày và gởi về cho bà con thân thương từ ngàn dặm xa xôi.
Đó là câu chuyện nối tiếp chuyến thăm viếng San Diego mà con muốn kính gởi đến cha.
. .Cách đây mấy năm, nhân dịp về thăm quê, một ông bạn già nhờ Tạo vào Văn Miếu Hà Nội tìm giúp tên tổ tiên đỗ đạt được ghi danh bia đá.
Nghĩ lại phận mình, tổ tiên không ai đỗ đạt cao để "lưu danh muôn thủa", đến đời mình, tuy làm "Việt Kiều Mỹ" - nghe có vẻ thơm tho- nhưng gắn thêm tí nghề nghiệp vào thành “Việt kiều ve chai” chắc không khỏi báng mùi.
Mùi vị tủi thân ấy, với Tạo, đã hết từ ngày thấy được loài “hoa ve chai” nở đẹp. Làm bất cứ ngành nghề nào chắc cũng không khác nghề vun trồng cây cối là bao. Cây cối biết nở hoa, mọi công việc đều vậy.
Hiểu ra điều này, Tạo cùng chú Thoòng càng yêu thương và hãnh diện với nghề nghiệp của mình. 
Cả hai lo vun phân tưới nước cho vườn hoa chung trong vựa ve chai và cho vườn hoa riêng trong gia đình mỗi người.

 Nguyễn Văn Hưởng

---tks t/g  Nguyễn Văn Hưởng,qua bài viết này quả thật có một loại hoa ve chai không rực rỡ sắc hương nhưng tỏa sáng lòng nhân ái và sự hy sinh thầm lặng dành cho người thân ở quê nhà  .
 Sự thông cảm lẫn tình cảm yêu thương giữa cộng đồng người Việt với những người bạn khác màu da trên xử sở tự do cờ hoa ...
Camly
2012
                           




Người Nghệ Sĩ ở Phố Hầm Atlanta ( end)


Ông Louis thì lại đại diện cho một góc cạnh khác của thành phố này.
 Cũng như những người đàn hát trên phố ở những nơi khác mà thôi, nhưng ông hầu như đã gắn liền với Phố Hầm.
Ông nói cho My biết rằng ông sống đơn độc ở Atlanta từ mấy mươi năm nay, sau khi ông trở về đời sống dân sự.

 Ông cư ngụ trong một khu phố nghèo ở ngoại ô, ngày ngày đáp xe lửa vào đàn hát mưu sinh ở Phố Hầm.Tiền bạc kiếm được ông đều gửi về giúp bà con ở New Orleans.
Ông sống cuộc sống rất đơn giản nên không cần nhiều tiền chi lắm.

 Công việc đàn hát của ông cũng như một "hobby" thôi, nhưng lại là một thú tiêu khiển kiếm ra tiền, ông không còn mơ ước nào hơn.
 Có khi đôi mắt ông, trong khi hát, bỗng trở nên xa thẳm.
Tiếng đàn của ông, tuy không réo rắt thổn thức như tiếng kèn trumpet của ông Jack, bạn ông, cũng hay biểu diễn trước khu nhà hàng, nhưng nó lạ lùng lắm.
Có khi nó vui tươi tở mở như tiếng reo của người đi xa lâu ngày được trở về quê.
 Lại có khi nó nghẹn ngào như nói lên thân phận của những người sống lạc loài đã mấy trăm năm, muốn tìm lại cội rễ của mình.
Lần này thì My nghe ông Louis hát bản "Georgia on my mind".My thường nghe bài này với hình ảnh Ray Charles ngồi đàn piano và hát. Nhưng ông Louis chơi guitar thì lại có một tính cách riêng.
Chơi guitar trình bày một bản nhạc jazz thì có vẻ hơi lạ lùng một chút. 
Nhưng ông Louis vừa đàn vừa hát rất tự nhiên, như thể ông đang tâm tình cùng mảnh đất nơi ông đang trú ngụ.
Chỉ một bài hát cũ
Giữ Georgia trong tôi
Đêm ngọt ngào quyến rũ
Qua hàng thông, trăng trôi
Như cánh tay vươn nhẹ
Như ánh mắt dịu dàng
Giấc mơ lành khe khẽ
Về đường tôi thênh thang
Ông nói:
- Tiếng Việt của cô nghe hay quá! Nó trầm bổng du dương như có nốt nhạc.
- Cám ơn ông Louis.
Ông Louis bỗng reo lên:
- A! Tại sao cô không cho tôi và khán giả quanh đây nghe một bản nhạc Việt nhỉ? Cô... có chơi đàn được không?
- Dạ... có. Ông cho tôi mượn cây đàn nhé!
- Dĩ nhiên.
Và ông quay sang nói với đám đông:
- Thưa quý vị, đây là người bạn của tôi. Cô ấy sẽ hát cho quý vị nghe một bản nhạc Việt Nam.
My ngượng lắm. Nhưng cố thu hết can đảm, My bắt đầu bài hát mà My yêu thích từ nhỏ:
- Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn, lúa ngô cho đủ hai mùa. Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê..
Hát xong, My tóm tắt ý bài hát ra tiếng Anh cho mọi người hiểu. Mọi người vỗ tay dòn dã. My hết sợ. Ông Louis chớp nhanh đôi mắt, xúc động.
Hình như ông đang bắt được cái nhịp đập chung của hai bài hát.Ông đứng yên.
Ô kìa! Đám đông đang bắt đầu một động tác quen thuộc: họ lần lượt đến bỏ tiền vào chiếc hộp của ông.
Nhiều người đến bắt tay ông, và bắt tay My nữa.
My bối rối, nhưng nghe một niềm vui kỳ lạ đang đến. Hôm nay My đã làm một nghệ sĩ đường phố. 
Một nghệ sĩ của Phố Hầm!...
Khi ông Louis gom tiền từ chiếc hộp, ông đưa cho My và nói:
- My ơi! Tiền này là của cô đấy!
My phì cười:
- Ông thật là công bằng như kiểu Mỹ. Nhưng ông hãy cho phép tôi gửi tặng lại cho những em bé nghèo ở quê ông, nhé ông! Làm ơn!
- Ồ!.. Vâng. Vậy tôi xin thay mặt các em bé đó cám ơn cô.
Tuần cuối của tháng tám, My bất ngờ nhận được tin ba đau nặng. My bay về Việt Nam ngay. 
Đầu tháng chín, ba mất. My ở lại Sài Gòn nửa tháng để cùng má và anh chị em lo việc cho ba.
Nỗi đau thương của gia đình chiếm hết thời gian và tâm trí của My. Và My phải trở lại Atlanta.
Dòng đời mỗi người vẫn phải trôi theo hướng đã định. My lại bù đầu với công việc hàng ngày...
Một sáng chủ nhật, khi những tia nắng vàng bắt đầu nhảy múa, gợi lại sự thanh thản cho My, My cảm thấy muốn đi xuống phố. Xuống phố!
Một công việc quen thuộc, chỉ trong vài tuần đã trở nên khá xa xăm.
Phố Hầm vẫn nhộn nhịp. Người qua kẻ lại dường như đông hơn trước.
 My khẽ mỉm cười. Ai cũng như có chút quen biết. Tại vì lòng mình nghĩ thế thôi!
Chẳng trách những cư dân của Villa International, nơi My cư ngụ, cũng thường thốt lên "Home! Sweet home!" mỗi khi đi xa về. Phố Hầm như cũng ngọt ngào chào đón.
My chạy ngay đi mua loại bánh Pháp quen thuộc, rồi đến nơi ông Louis vẫn thường biểu diễn.
Không có ông ở đó. My chạy tìm ông ở những nơi khác, cũng không gặp. Ông đã đi đâu?
Ông bệnh chăng? My giật mình khi nhớ ra rằng ông không còn trẻ trung gì nữa. My ngơ ngác...
Tiếng kèn trumpet! My đã nghe tiếng kèn văng vẳng. My chạy đến nơi kịp nhìn thấy ông Jack vừa chấm dứt bản nhạc.
Thấy My, ông Jack đưa một bàn tay lên chào. My đến gần, hỏi ông:
- Ông Jack, ông có biết tại sao ông Louis không đến đây?
Ông Jack lắc đầu:
- Không. Tôi đã không gặp ông ấy từ cuối tháng. Ông ấy bảo ông phải về New Orleans để thăm bà con và giúp đỡ cho họ. Sau đó, đã xảy ra cơn bão Katrina.
Cho đến nay, vẫn chưa thấy ông ấy trở lại. Tôi không được biết tin tức gì thêm.Thấy My chưng hửng, ông Jack an ủi:
- Chắc không sao đâu! Cầu Chúa ban phước cho ông ấy.
Vâng, chắc không sao đâu!
My tạm biệt ông Jack. Phố Hầm bỗng như vắng lặng khác thường. Túi bánh trên tay My vẫn còn nóng hổi. My lang thang hết các khu phố. 



Tiếng xe lửa chạy rầm rập trên những chiếc cầu cạn , gợi nên hình ảnh một người tìm về quê. Một chân bước xuống sân ga, chân kia còn trên toa tàu...
Well, I got one foot on the platform
The other foot on the train
I'm goin' back to New Orleans
To wear that ball and chain...
My từ chối:
- Không! Đó là tiền của ông. Tôi chỉ hát chơi thôi mà!
- Không được, của cả hai. Tôi chia đều nhé!
My ra khỏi Underground. Khung cảnh sáng trưng trước mắt với đài nước chảy lấp lóa. Một bầy chim bồ câu đang vui đùa với các du khách. 
My mở túi bánh, lấy ra một chiếc và bẻ nhỏ mời chúng ăn. Bầy chim ăn no nê xong rủ nhau bay đi.
Nhưng có một con còn ở lại. Nó không cử động. My đến gần. À, con chim giả!
Con chim bồ câu đậu gần chân của một bức tượng.
Đó chính là bức tượng người đàn ông đội chiếc "mũ phớt", ngồi trên thềm, cúi đầu, bên cạnh ông là một chiếc chăn nhỏ cuộn lại.
Một người không nhà! Bức tượng có lẽ làm bằng thạch cao, nhưng lớp sơn bên ngoài đen xám như màu đồng. Ông đang ngồi thật thong dong.
Có lẽ ông cũng đang thả những mẩu bánh vụn xuống đất cho con chim nhỏ này ăn.
Sau lưng ông là bờ vách nước chảy rất đẹp mắt.
Ông ngồi như bao nhiêu du khách ngồi chơi trên bậc thềm thấp đó, yên lặng, nhưng không lẻ loi.
My ngồi xuống bên bức tượng, chợt giật mình. Bao lâu nay My đã quen thuộc với bức tượng này mỗi khi đến Phố Hầm. My lại còn ngồi cạnh ông để chụp hình nữa.
Nhưng chưa bao giở My ngắm kỹ gương mặt của ông, bởi nó hầu như khuất trong bóng của chiếc "mũ phớt".
Bây giờ My mới nhận ra rằng gương mặt này rất giống ông Louis.Mà không! Không phải chỉ giống ông Louis.
 Bức tượng này có lẽ giống rất nhiều người.
Đó chính là những người "nghệ sĩ" rất âm thầm của Atlanta. Họ đến rồi đi. Có thể rồi họ cũng sẽ trở lại.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

Người nghệ sĩ phố hầm Atlanta


My có thói quen đáp xe bus xuống phố mỗi cuối tuần. Xuống phố! Mỗi lần đi như thế My có cảm giác như đang nghe bài hát "Downtown" thuở còn đi học và hát theo giọng hát của Petula Clark trong radio.
Ở downtown, người và xe tấp nập, không giống như khu vực nơi My cư ngụ
. My tha hồ đi dạo khắp nơi, không mua sắm thì cũng có nhiều chỗ để ngắm nghía. Và lần nào My cũng không quên đi xuống Phố Hầm.
Phố Hầm! Đó là cái tên của riêng My nghĩ ra và đặt cho khu Underground Atlanta.
Nơi đây cũng giống như những trung tâm thương mại khác, nhưng lại có một cái gì rất riêng.
Chỉ cái tên gọi "Underground Atlanta" đã là đặc biệt lắm rồi! Một khu vực rộng khoảng năm "block phố", kiến trúc cũ kỹ, nằm dưới "hầm".
 Biết bao nhiêu thăng trầm từ lúc bắt đầu được xây dựng sau cuộc Nội Chiến, đến nay Phố Hầm như một địa điểm du ngoạn và giải trí cho cả du khách lẫn người dân sở tại.
Hết bài nhạc, ông quay sang My, cười nhẹ, rồi thật tự nhiên, ông nói:
- Tôi tên là Louis. Còn cô?
- Dạ tôi tên My, M.Y. Nhưng xin ông cứ gọi tôi là "mi", không phải "mai".
- "Mi" nghĩa là tôi, phải không?
- Phải.
My cười theo ông, hóm hỉnh. Ôi, mình đã có thể trò chuyện với ông ấy rồi đây!
Nhưng My không thể ngồi nghe ông đàn mãi được, vì My còn phải làm nhiệm vụ: đi mua sắm.
 My tạm biệt ông. My rảo bước vào những gian tiệm, tìm mua áo quần và đồ chơi.
Cũng có những món quà lưu niệm dễ thương My mua ở những cái "booth".
Chà! Mỗi người một món, vậy mà xách đã nặng đôi tay. My không quên ghé mua một túi "bánh croissant" nóng hổi ở một tiệm bán bánh Pháp mà My rất mê.
Đi một vòng lại trở về nơi cũ, My gặp ông Louis cũng còn đang đàn hát. Vẫn có nhiều người đứng thưởng thức chung quanh ông.
Nhưng có lẽ ông dễ dàng nhận ra My trong những người lạ đó, nên ông nheo mắt cười với My.
Chờ ông dứt bản nhạc và ngồi nghỉ, My đến mời ông một cái bánh.

 Ông nhận ngay, ăn một cách vui thích. Ông gật gù:
- Cô có sở thích giống với tôi.
 Tôi thích loại bánh này lắm. Ở quê tôi, cũng có tiệm bánh Pháp bán loại bánh này.
Thật ra, ở xứ này, nơi nào cũng có những hiệu tiệm như nhau. Nhưng cái gì ăn ở quê thì cũng có khác, phải không cô?
- Quê ông? Quê ông ở đâu?
- Nơi có ngôi nhà mặt trời mọc đó.
- New Orleans?
- Đúng rồi.
- A! Hay quá! Vậy sao ông không ở đó mà đến đây?
Buổi sáng hôm nay, My cũng lang thang trong Phố Hầm. 
My có ý tìm mua một vài món hàng làm quà cho gia đình.
My thích ngắm những chiếc "booth", tức là những gian hàng nhỏ, với hình dáng như những chiếc xe ngựa, trên đó trưng bày đủ loại từ quần áo, khăn, mũ cho đến nữ trang, đồ chơi, bánh kẹo....


Những chiếc xe xinh xắn ấy đứng tăm tắp bên nhau, trông như đang chờ để rời bến.
Trong lúc còn đang thơ thẩn, My nghe xen lẫn trong tiếng cười nói của mọi người, có tiếng đàn guitar văng vẳng. Có cái gì thúc đẩy My lần theo tiếng đàn ấy.
Tiếng đàn rõ dần. Và đây rồi! Không phải chỉ tiếng đàn, mà còn có lời hát nữa.
Nơi khoảng trống trước một cửa tiệm bán giầy, người đàn ông đội chiếc "mũ phớt, cầm cây đàn guitar, vừa đàn vừa hát. Chỉ một mình ông thôi.Không có ban nhạc.
 Không có micro. Nhưng giọng của ông lúc lên cao, lúc hạ thấp, rõ ràng và điêu luyện không kém những ca sĩ trên sân khấu. My tiến đến gần ông.


 Ôi! Ông đang hát bản nhạc mà My yêu thích từ lâu: "House of the rising sun".
Một cảm giác vui vui khiến My mỉm cười. Ông càng hát, My càng bị lôi cuốn theo bản nhạc.
Và khi nỗi niềm dâng lên thành một đợt sóng, rồi hạ thấp dần để thành một nỗi đau câm lặng, ông dứt tiếng hát.
Ông còn đàn thêm một đỗi nữa với những âm giai mà My hồ như đã quen thuộc lắm, rồi ông để cho tiếng đàn tắt dần. Xung quanh ông bỗng nhiên chỉ còn lại sự im lặng.
Cả đám đông im lặng. My chợt đưa tay lên má mình, thấy một giọt nước mắt rơi...
Và rồi đám đông như bừng tỉnh. Tiếng vỗ tay vang lên rào rào.
Người ta bỏ những đồng tiền lẻ vào chiếc hộp giấy ông để cạnh bên. My cũng bỏ tiền vào đó.
Một vài người bước đi. Vài người nán lại có ý chờ xem ông có hát thêm hay không. My đến gần ông, mở lời:
- Hay quá! Cám ơn ông.
Ông nhìn My, gật đầu:
- Cám ơn cô.
My không muốn yêu cầu ông hát bản khác. Bởi bài hát vừa rồi quá hay, My muốn giữ lại dư âm của nó.
Người đàn ông gom góp mớ tiền trong chiếc hộp, cho vào túi của chiếc áo khoác màu xám. Chiếc mũ của ông cũng màu xám.Áo quần màu xám. 

Mái tóc màu xám. Và nét thời gian được vẽ trên gương mặt phong trần của ông với làn da màu nâu. Ông trông giống như một pho tượng đồng.
Chừng như ông cũng không muốn hát nữa, nên ông đến ngồi trên băng ghế dài trước hành lang hẹp.
Thấy My đang nhìn vào cây đàn guitar của mình, ông khẽ hỏi:
- Cô thấy cây đàn này thế nào?
My nhìn kỹ. Đó là một cây đàn đã cũ, trông hình thù không có gì đặc biệt. Nhưng thật khó tưởng tượng rằng cây đàn này đã phát ra những âm thanh tuyệt vời lúc nãy. My trầm ngâm một chút, và đáp:
- Ông ơi! Cây đàn hay lắm!
- Thế ư?
- Nói đúng hơn là... ông đàn rất hay.
Người ca sĩ cười thành tiếng:
- Thật vậy sao? Tôi không nghĩ thế. Tôi kiếm sống qua ngày thôi cô ạ
!Nhưng ông đàn và hát rất hay, hay hơn cả những người nhà nghề.
Ông gật gù ra vẻ hài lòng, rồi ông bắt đầu chơi một bản độc tấu.My ngồi xuống bên cạnh ông, yên lặng lắng nghe. "Kiếm sống qua ngày"!
Qua hình dáng khắc khổ của ông, My liên tưởng đến những người đàn hát dạo trên đường phố Sài Gòn, trên những cầu bắc, trên những chuyến phà đông đúc người và xe cộ đủ loại.

Đa số họ là những người khuyết tật, do bẩm sinh cũng có, mà do vết tích của chiến tranh để lại cũng có.
Những cuộc đời nghèo!


Ngày qua ngày, tiếng đàn tiếng hát không phải là nghệ thuật mà như tấm gương phản chiếu toàn bộ cuộc đời vô định của họ. My ngậm ngùi thở dài.
Chợt nhìn qua người ca sĩ nơi đây, My thắc mắc không biết cuộc đời của ông ra sao nhỉ?
Tôi ở đây để kiếm sống. Ở đây tương đối dễ tìm việc hơn. Đi hát dạo thế này còn kiếm được khá tiền, chứ ở quê tôi thì nghèo lắm!
My im lặng.
Ông Louis hỏi:
- Thế còn cô? Quê của cô ở đâu?
- Quê của tôi... xa nơi đây lắm ông ạ, là Việt Nam đó!
Ông Louis gật gù:
- Việt Nam? Việt Nam ư? 

Tôi biết. Tôi đã có thời gian ở bên đó.
My reo lên:
- Ông đã ở Việt Nam?
- Phải. Tôi cũng đi nhiều nơi, về thôn quê cũng nhiều. Tôi làm quen cả những người ca sĩ đi đàn hát dạo ở xứ của cô nữa đó!
- Thật vậy sao?..
. Ông ơi, ông có phải là... cựu quân nhân?
- Phải! Nhưng giờ đây tôi đã về sống đời bình thường. Tôi hồ quên hết rồi! À, gia đình của cô ở cả đây chứ?
- Không ông ơi!
Cha mẹ và nhiều anh em tôi còn ở Việt Nam. Tôi nhớ nhà lắm!
- Bao giờ cô về lại?
- Tôi chưa biết nữa. Hôm nay tôi lo đi mua quà dần dần cho những người thân. Tôi muốn gửi quà cho họ nếu tôi chưa về được.
- Vui nhỉ! Vậy tôi hát tặng cô bản "Take me home, country roads" nhé!
- Vâng, cám ơn ông.
- Nhưng tôi không nhận tiền của cô nữa đâu đấy!
Phố Hầm Atlanta, người dân ở thành phố Atlanta quen gọi đó là Underground. My thì thấy chữ "Phố Hầm" do mình đặt có một nét hay hay, rất đặc biệt.
Từ khi còn là một cô bé, sinh ra và lớn lên tại thành phố sương mù Đà Lạt, My như đã gắn bó với những kiến trúc có tầng hầm.
Đi làm việc tại những viện nghiên cứu khắp nơi, My cũng đã từng miệt mài trong những "labo" ở tầng "sous-sol", hay còn gọi là basement.
 Đến Atlanta, không chỉ có một basement mà còn có thể đến ba, bốn tầng basement.
Và ở đây, tính cách vừa cũ kỹ vừa tân thời của khu Underground cũng đã gợi cho My nhiều cảm tình.
My thấy mình rong chơi trong Phố Hầm như người đi khám phá những điều thú vị.
Khi đi vào những cửa tiệm đầy ánh đèn thì có cảm giác đang là ban đêm, nhưng ra đến một nơi khác thì chan hòa ánh sáng mặt trời.

 Tại đó, My thích đứng chụp hình với những hình tượng trong truyện cổ tích hoặc phim hoạt họa. Những bức tượng đó cao to hơn My rất nhiều.
Đa số những người làm ăn buôn bán ở Phố Hầm là người da đen, cũng như ở nhiều nơi khác trong thành phố Atlanta. Atlanta!
Cái thành phố quê hương của "Cuốn theo chiều gió", của Khu tưởng niệm Martin Luther King Jr., của Trung tâm Jimmy Carter, của tổng hành dinh CNN, của Thế giới Coca Cola, ... và của Phố Hầm.

 My quen thuộc những nơi ấy, cũng như quen thuộc lối đi về CDC và Vila International trên khu đồi thơ mộng của mình vậy.Nếu My gặp ông Louis ngoài đường phố, không đàn không hát không chuyện trò, thì chắc My cũng thấy ông bình thường như những người My gặp trên xe bus, trong tiệm ăn, trên màn hình ti-vi, hoặc như những người làm việc trong các tiệm đánh giày.
A! Nói đến tiệm đánh giày thì phải nhấn mạnh đến điểm đặc biệt của nó.

 Người ta sẽ được thấy một khung cảnh mà ở Việt Nam không bao giờ có.
Người khách hàng ngồi trên một chiếc ghế đặt trên một cái bục rộng, cao khoảng hơn một mét.
Người thợ đánh giày thì đứng, chứ không ngồi, và đứng rất thẳng, làm công việc đánh bóng đôi giày cho khách.
Lần đầu tiên khi My nhìn thấy cảnh này, My giật mình vì có cảm tưởng rằng người khách kia ngồi "chễm chệ" trông hách dịch quá!
Nhưng khi nhìn lại, và suy nghĩ kỹ, My thấy hay hay, bởi vì người thợ đánh giày không phải ngồi lom khom dưới chân của khách.

Họ đứng thẳng như những người thợ hớt tóc, thợ may, nhân viên bưu điện hay ngân hàng; hoặc theo cái nhìn "méo mó nghề nghiệp" của My, giống như những người làm việc trong phòng thí nghiệm vậy.
Nhưng đó là những người thợ đánh giày làm việc trong tiệm. Ngoài đường, My vẫn gặp những cô cậu thiếu niên xách những thùng đồ nghề giống như những em bé đánh giày của Việt Nam.
Chúng chen chúc chạy lên xe bus, xe lửa, đứng túm tụm vào với nhau và nói cười râm ran thật tự nhiên

Quán "Không"


Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất.
Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử.
Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái:
- Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
 Cô gái buồn bã nói:
 - Tôi bị người yêu ruồng bỏ, tôi không muốn sống nữa, bởi vì không có anh ấy tôi không sống nỗi.
Vị thương gia vừa nghe xong lập tức nói:
- Ồ! Lạ nhỉ, sao lúc chưa có bạn trai, cô có thể tự sống được. Cô gái vừa nghe xong liền bừng tỉnh và bỏ ngay ý định tự tử.
 Ngay lúc đó vị thương gia nọ cũng chợt nhận ra rằng: Khi chưa giàu có ta vẫn sống bình thường, ta cũng tay trắng làm nên mà!
Lúc đó cô gái quay sang hỏi vị thương gia:
- Đêm hôm lạnh lẽo như vậy, anh ra đây để làm gì?
Vị thương gia ậm ừ trả lời:
- Ừ… đâu có làm gì, chỉ là tản bộ chút vậy thôi!.
Thì ra, dù đã mất tất cả nhưng thực sự cũng chỉ bằng lúc ta chưa có mà thôi. 
Đây là một tuệ giác lớn! Phần lớn thế hệ chúng ta từng sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong giai đoạn đất nước đói nghèo, gia sản chỉ gói gọn trong một chiếc ba lô nhưng vẫn yêu đời, tin tưởng vào tương lai tươi sáng thì giờ đây rủi thời dẫu có thất thế sa cơ đến tay trắng cũng chẳng đến nỗi nào, vì trước đây ta có cái gì đâu!
 Ai thấy được điều này là có trí tuệ. Vì khổ đau, vật vả, thù hận thậm chí quyên sinh khi mất mát xảy ra, xét cho cùng cũng chỉ thiệt cho mình.
 Nhờ quán không nên người con gái trong câu chuyện trên khi mất người yêu nghĩ rằng không có người yêu thì không sống nỗi, chợt thấy rõ rằng trước khi chưa gặp “kẻ phản bội” kia thì ta vẫn sống vui, liền lập tức đổi ý không trầm mình xuống sông nữa.
 Người thương gia trắng tay cũng đổi ý khi ngộ ra rằng trước đây ta cũng từ tay trắng mà lên.
 Bây giờ trắng tay nhưng cũng chỉ bằng ngày xưa chứ chưa mất mát tí gì.
Con người sinh ra đời với hai bàn tay trắng và dù thành công hay thất bại thì cũng trở về cát bụi với hai bàn tay không, vậy thì sá gì với được mất, có không, vì vô thường thay đổi vốn là bản chất của cuộc đời này. 
Chúng ta hãy quán chiếu thật sâu sắc vào sự chuyển biến vô thường của cuộc đời để sống bình thường trước mọi biến động có thể xảy đến với ta bất cứ lúc nào.

St



Nỗi Lòng Khi Ăn Crawfish


Chả bao giờ tôi thích ăn crawfish. Cái con tôm đất be bé, đo đỏ sống trong bùn này ngó cái vỏ ngoài thì cũng tương đối vừa phải, ok.
 Nhưng sau khi ngắt cái đầu, ngắt cái đuôi, kéo được cái mình bên trong ra, thì thịt của nó chỉ còn lại tí teo bằng nửa ngón tay út.
Nếu muốn ăn cho no thì cầu phải "chơi" gần cả trăm con chắc mới tương đối lưng lửng bụng.
Tưởng tượng phải ngồi trước một khay crawfish đầy vun, ngùn ngụt khói.
Vốc một vốc bỏ vào dĩa trước mặt
  Lượm một con, ngắt - ngắt - lột - lột, cho vào miệng nhai vài cái.Nuốt.
 Rồi lại bốc con khác, bẻ - bẻ, lột - lột...
 Cứ thế mà bổn cũ soạn lại cho đến khi hết khay hoặc ngán!
 Úi chao, sao mà mà nó nhiêu khê, lắt nhắt-li nhi thế!
Đã vậy tay chân còn lem nhem nữa chứ! 
Vì ăn cái thứ này phải "bình dân học vụ" bốc tay mà bẻ, mà ngắt, chứ ăn kiểu cho "sang" với dao nĩa thì chắc 5 ' mới cắt được một con!Cũng chưa hề thấy người ta ăn loại này hấp không cả. Mà toàn là thấy pha chế vào một đống gia vị.
 Vứt thêm một đống tỏi, gừng, ớt bột, chanh tươi ..
(Mấy thứ này chắc là để khử mùi bùn của tôm).
Xong rồi lại còn quăng thêm vào nào bắp, nào khoai tây, nào sausage.
(Chắc là để ăn thêm chung với tôm cho đỡ ngán).
 Thành thử ra lớp vỏ ngoài của con tôm đất này khi bắt đầu ăn nó lầy nhầy, bầy hầy dính đầy gia vị tả pí lù...
Lâu lâu phải đưa mấy ngon tay lên mút mút vài cái cho sạch rồi mới tiếp tục ăn thêm được.
Mới quen người yêu mà dắt nhau đi ăn thứ này thì quả thật không ... sang, không lãng mạn tình tứ lắm. Trừ khi lợi dụng mà mút tay cho nhau để tỏ ... "tình thương mến thương" thì lại là chuyện khác!
Đừng thấy chỉ có mình tôi không mê mà tưởng ít người ăn món này nhé.
 Úi cha, khối người mê nó à nha.Bao nhiêu tiệm crawfish mở ra ở khu Việt, miền Nam Cali trúng mánh, giàu to cũng vì thứ này.Tiệm mở ngó thấy mê luôn, lúc nào cũng nườm nượp tài tử - giai nhân, khách ra vào, ăn ngay đó hoặc mua mang về.
Nhiều khi phải xếp hàng chờ dài thoòng nữa chứ chẳng phải chơi.Chẳng thế mà dạo sau này nhiều giáo xứ, cộng đồng người Việt bên Texas cứ mỗi độ tới mùa là lại mở "Crawfish Festival" (Hội chợ Ăn Tôm Đất) để gây quỹ.
Lại còn mời ca sĩ "xịn" bên Cali sang để hát giúp vui nữa chứ. Trên sân khấu thì hát mặc hát.
Dưới khán giả thì ăn mặc ăn, cụng bia rầm rầm, "Dzô - Dzô..." ỏm tỏi. Vui đáo để. Nghe tin hành lang nói mỗi kỳ xong là lời cả vài trăm ngàn đô...
Ca sĩ cũng nhiều người mê cái món này khủng khiếp.
Mê nhất trong đám bạn tôi phải kể đến cặp Lynda Trang Đài & Tommy Ngô. Lynda mà gặp crawfish thì mắt bạn tôi bỗng rực sáng như 2 cái đèn pha xe ô-tô, tay chân luống cuống.
Một mình bạn tôi có thể thanh toán 20 lbs + thêm Tommy 20lbs. Tổng cộng 2 vợ chồng là 40lbs tròn.Hai người này có thể ăn crawfish cho bữa sáng, bữa trưa, bữa chiều, bữa tối & cả bữa ... nửa đêm.Vậy mà chỉ có mình tôi không mê!
 Tôi nhà quê, lạc hậu không ta?
Mà cả gia đình tôi, thấy cũng chẳng ai phê pháo món này gì cho lắm. Vài năm trước có lần đi Louisiana đúng mùa,
Tôi đóng thùng xách về cả đống.
 Hý hửng mời cả gia đình ăn trong bữa cơm tối thì thấy mọi người chỉ uể oải lịch sự khều khều dăm con cho có lệ, rồi quay qua ăn cơm.
Lần ấy chỉ khổ tôi ngược xuôi xách đống tôm đất còn lại năn nỉ đi cho. Chán!Cái màn ăn crawfish này nó như có phong trào nha, mới bùng ra cách đây khoảng 15 năm trở lại thôi thì phải.
Trước đó ở bên Cali tôi đâu thấy ai nhắc nhở tới.
Hoặc lúc ấy tôi không có tiền nên không biết tới ta?
 Và cũng hình như món này bắt nguồn từ đâu đâu tiểu bang Louisiana hoặc Texas chi đó.
Mấy tiểu bang khác hình như không có. Mà dân Mỹ cũng không thấy nhắc nhở gì nhiều tới món này. Hay chỉ có người Việt mình thích nhiều?
Không thích, thành thử đừng có hòng ai rủ tôi đi ăn crawfish được nhé. Tôi sẽ có rất nhiều lý do để né tránh lắm. Cho đến thứ hai tuần trước,
Mai Khanh, bạn tôi cũng khệ nệ khiêng về gần cả trăm pounds tươi từ Houston.
Cũng rủ tới ăn, chỉ có vài người bạn với nhau thôi. Tôi ngại ngùng tìm đường khước từ.
Crawfish thì tôi chê tự thuở nào tới giờ rồi, cộng thêm chưa từng bao giờ nghe bạn tôi nhắc nhở chuyện nấu nướng chi cả rồi bây giờ rủ mình lại, tự nấu crawfish cho ăn thì tôi ... sợ lắm.
Không gì hãi bằng đồ ăn không nuốt được mà phải ngồi ráng ăn cho hết vì sợ ... buồn lòng người nấu!Thế mà tôi đã không kiếm được đường khoái thác! 
Trước khi tới, tôi đã đặt sẵn thêm từ nhà hàng nào cơm chiên, mì xào, nào gỏi cuốn ... để lỡ có tệ quá thì tôi còn thứ khác để nhá
Và để bảo đảm an toàn tính mạng hơn tí nữa, tôi còn ghé tiệm mua thêm 3 bịch khô bò tiêu đen thật to, thứ mà tôi thích ăn để ... phòng hờ.
Bạn tôi, Mai Khanh ào vào, khệ nệ khiêng vào một lô bịch giấy đựng đồ lằng nhằng mua từ siêu thị nào đó, rồi đứng nêm nấu cho nguyên một nồi to tổ bố.
Tôi thấy đổ cả vại sữa vào nồi rồi quăng thẳng thêm một đống củ tỏi để nguyên củ, không bóc vỏ thì hãi quá chạy ra ngoài, không xem nữa.
 Coi như phen này tiêu tùng rồi, crawfish mà lại đổ sữa tươi vào thì ăn xong chỉ có nước thay nhau xếp hàng chạy ... té re!
Lúc khay tôm đất thật to, bốc khói được mang đặt ra bàn thì tôi ngó nó bằng có nửa con mắt. Ừ thì nhìn vàng vàng, cam cam, đỏ đỏ, cũng Ok, đẹp mắt..

. Lynda Trang Đài xấu đói nhất đám, giả lả mời mọi người rồi nhảy xổ vào bốc bốc, vặn vặn, xuýt xoa khen.
Úi Lynda bạn tôi lịch sự quá đi, đã không ngon rồi mà còn giả bộ khen rối rít nữa chứ, mà mắt thấy cũng ... thành khẩn ghê nơi! Tôi nghĩ bụng, đóng kịch hay thật. Cho Lynda điểm 10 về khâu này đấy.Ngồi mãi mà không ăn miếng nào cũng kỳ. Mai Khanh dòm dòm tôi như hỏi: "Chê hả bạn?".
Ừ thì ăn, tôi bốc trái bắp trong đó ăn trước. Gì chứ bắp thì tôi thích. Hmm, bắp ngon nhé.
Ngọt mà thơm nữa. Cũng được! 
Kế tiếp lừng khừng móc tới miếng sausage. Hừ .. lại cũng được đó chứ, beo béo thơm thơm nha.
Thì sausage lúc nào chả ngon?
Người bạn ngồi bên cạnh coi bộ sốt ruột, bốc một vốc tôm vứt ngay lên a dùm. Thế là hết đường chạy rồi nhá, tôi than thầm! Chắt lưỡi nhẹ, thì phải ăn vậy thôi...
Chầm chậm ngắt cái đầu tôm, lật qua lật lại ngắm nghía. Bỏ xuống. Ngắt thêm cái đuôi.
Ngắt mãi nó cũng hết thứ để ngắt, tôi tần ngần bỏ cái mình tôm bé bé vào miệng với hy vọng mình sẽ không ... rùng mình! Ooh, nó nằm trong miệng rồi kia, phải nhai thôi mà!
Hmm, một vị béo béo, thanh thanh, thơm thơm, cay cay... Ủa, được quá chớ! Sao cái vị nó không giống cái mùi "cajun" của Mễ mà mấy lần trước mình ăn cà?
Chắc con crawfish vừa rồi là ... hên nên ăn thấy ngon chăng? Thử con khác đi.
Con thứ nhì, tôi bốc lên với vẻ mạnh dạn hơn tí tí. Ủa vẫn ngon như con trước nha!
Ngon thiệt, ngon quá, hợp miêng tôi lắm. Tới lúc này thì cái khay đã vơi đi hơn một nửa. Vợ chồng Lynda - Tommy tấn công, vồ tới tấp..


. Tôi "hồ hởi phấn khởi" nhấn ga tăng tốc lực bốc. Ăn chưa kịp lưng bụng thì khay tôm cạn queo!
Tiếc! Tôi liếc Lynda & Tommy bằng cặp mắt mang hình viên đạn, lẩm bẩm nguyền rủa "cặp vợ chồng ... tham ăn" này đã không ăn chậm lại & nhừơng cho tôi thêm...
Tôi chỉ nhắm vào cặp này vì Không dám hỏi llớn, lỡ ... Lynda & Tommy nghe được thì tôi chẳng còn cơ hội, thì bạn tôi lắc đầu: "Hết rồi! Mấy chục pounds lận đó.
 Thôi ăn tạm mấy thứ khác đi...
" Không tôi không muốn ăn mấy thứ khác, tôi muốn ăn mấy con crawfish này kia.
Cả đám ăn no ngồi nói chuyện cười vui rỉ rả. Tôi ngồi đó mà lòng hơi hậm hực tiếc rẻ ....
Đừng vội tưởng tôi sao đổi qua thích lẹ thế?
Tôi vẫn không thích ăn crawfish khác đâu, chỉ thích thứ mà bạn tôi đã làm thôi.
Tôi dọ hỏi xem bao giờ bạn tôi lại đi "công việc" bên Houston nữa để còn xúi dại mang thêm crawfish về chứ.
Bạn tôi ngây thơ trả lời: tháng sau. 
Tôi kiếm đường gài cho bạn tôi lại xách về làm & mời tụi tôi tới xơi tiếp.
Và còn chơi xấu bỏ nhỏ rằng lần sau đừng rủ rê hai cái ... "thứ tham ăn" kia nhé. Bạn tôi cười khoái chí: "Sao hồi nãy chê kia mà...?".Ờ thì hồi nãy là chuyện hồi nãy
. Bây giờ ăn rồi thấy ngon, mọi việc đã đổi khác rồi.
Coi chừng nấu món này mà ngon vậy thì mấy món khác chắc cũng ... không kém.
Tôi bừng nghĩ ra, lại gợi hỏi có bao giờ bạn tôi mời tôi ăn cơm nhà nấu không?
Ban tôi không trả lời nhưng coi bộ khoái chí cười thích thú... Nấu ăn mà có người khen thì thích lắm chứ há.
Ậy thôi cũng là bài học cho tôi để lần sau bỏ cái tật đừng nên chê cái gì sớm quá.
Phải ăn thử nó cái đã rồi hẵng chê, kẻo lừng khừng như hồi nãy mất ăn rồi ngồi tiếc. Bài học này tôi phảivề biên ngay vào sổ để nhớ mới được.
À ... còn thêm một bài học khác nữa quan trọng không kém cũng phải biên xuống để nhớ luôn là:
"Cẩn thận khi đi ăn đi uống với cặp vợ chồng Lynda & Tommy.Nếu có phải đi ăn chung thì nên ngồi xa xa & ... phòng thủ, không thôi sẽ mất phần".
Tôi cũng phải gạch dưới đít chữ "Cẩn thận" này vài ba gạch để nhớ thôi..
.Hà hà, bài học thứ nhất thì là thiệt!
Bài học thứ hai về Lynda & Tommy bạn tôi là dỡn chơi cho vui thôi, chứ thật sự bạn tôi vui vẻ & dễ thương lắm tuy ăn hơi ... mau thôi.
Tôi nói dỡn chơi đấy nhé, bạn không được méc lại 2 người này à nha...
Trời đêm, đoi đói... Ăn cái chi bây giờ ta?
Hmm... Bỗng thèm thèm mấy con tôm đất bữa trước. Phải chi có được vài pounds nhâm nhi nhỉ. 
Lắt nhắt cũng chịu!
Dơ tay cũng chịu!
Thôi không được nghĩ tới, coi chừng lát nằm mơ nha...
Thèèmm....!

Don Hồ 


note :
 trời người ta mở nhà hàng crawfish làm giàu mà ca sĩ Don hổng biết update dậy kìa , ăn rồi sẽ ghiền như couple Lynda & Tommy thôi anh Don ah !
 thích đọc mọi entries của anh vì chất dí dỏm ,bình dị nghĩ sao viết vậy không màu mè gì hết ,đó  là
nét   riêng :"không đụng hàng " của ca sĩ Don Hồ ,tks anh nhaazzz!