Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Nghe lại sự tích chim tu hú


Bởi tính tình nóng nảy mà Bất Nhẫn tu luyện mãi vẫn không thành chính quả. Cuối cùng, chàng bị Phật bà bắt hóa thành một giống chim mà người đời sau gọi là chim tu hú. Sự tích chim tu hú mang đến cho người đọc một bài học: Thiếu kiên nhẫn sẽ làm cho người ta tự phá hỏng những việc mình đã mất nhiều công sức trước đó.
Ngày xưa có hai nhà sư Năng Nhẫn và Bất Nhẫn. Hai người cùng cạo đầu xuất gia từ ngày còn trẻ và cùng tu ở một ngôi chùa hẻo lánh. Sau một thời gian dài tu luyện thì bỗng một hôm Năng Nhẫn được đức Phật độ cho thành chính quả.Bất Nhẫn thấy mình tu hành không kém gì bạn mà không được hưởng cái may mắn sớm như bạn thì rất buồn bực. Chàng đến trước tòa sen hết sức kêu nài với đức Phật bày tỏ lòng chân thành tu đạo cùng mọi sự khổ hạnh đã trải qua của mình. Ðức Phật bảo chàng: - "Nhà ngươi chuyên tâm cầu đạo, lại là người trong sạch thật đáng khen ngợi. Nhưng tính tình nhà ngươi vẫn như con trâu chưa thuần, chưa thể đắc đạo được.
 Vậy hãy cố gắng tỏ rõ tấm lòng nhẫn nhục trong một cuộc khổ hạnh trường kỳ rồi sẽ theo bạn cũng chưa muộn".Bất Nhẫn ngheo lời bèn lên núi chọn một gốc cây bắt chước người xưa ngồi xếp bằng tu theo lối trường định. Chàng cương quyết ngồi im lặng như thế mãi mãi trong ba năm, dù có phải thế nào cũng không chịu dậy.Và từ hôm đó, Bất Nhẫn như một vật vô tri vô giác. 
Những con sâu, con kiến bò khắp mình chàng. Những con thú cà vào thân chàng. Những con chim ỉa lên đầu chàng. Chàng đều không hề bận tâm. 
Chàng chỉ một mực tâm tâm niệm niệm những nghĩa lý của đạo Phật.Cứ như thế, trải qua hai mùa hè và sắp sửa qua một mùa hè thứ ba là kết thúc cuộc tu luyện. Tự dưng một hôm có hai vợ chồng con chim chích ở đâu đến làm tổ ngay trong vành tai của Bất Nhẫn. 
Chàng cứ để yên, mặc chúng muốn làm gì thì làm. Chúng đi về tha rác lên đầu, lên mặt. Rồi chim mái đẻ trứng. Rồi cả một thời kỳ hai vợ chồng thay phiên nhau ấp. Cho đến lúc những con chim non kêu léo nhéo suốt ngày. Nhưng Bất Nhẫn không lấy thế làm khó chịu.
Một hôm, lúc ấy chỉ còn mười ngày nữa thì Bất Nhẫn hết hạn ngồi dưới gốc cây. Hôm đó, chim vợ đến lượt đi tìm thức ăn cho con. Suốt cả một buổi chiều nó vẫn không kiếm được một chút gì. Mãi đến gần tối, lúc lượn qua một cái hồ, chim vợ mới thấy một con nhện đang giăng tơ trong một đóa sen. Nhện nhác thấy chim liền ẩn vào giữa những cánh hoa làm cho chim mất công tìm mãi. Không ngờ hoa sen vừa tắt ánh mặt trời đã cụp ngay những cánh của nó lại nhốt chim vào trong. Chim cố tìm lối chui ra nhưng những cánh hoa vây bọc dày quá đành chịu nằm lại đó. Khi ở nhà, chim chồng hết bay đi kiếm vợ lại trở về. Ðàn con đói mồi nháo nhác suốt đêm. Mãi đến sáng mai chờ lúc hoa nở, chim vợ mới thoát được bay về tổ.
 Một cuộc cãi lộn nổ ra bên tai Bất Nhẫn. Ghen vợ, chim chồng nhiếc vợ hết lời. Nhưng chim vợ hết sức bày tỏ nỗi lòng trinh bạch của mình. Cuộc đấu khẩu kéo dài suốt cả một buổi sáng và có cơ chưa chấm dứt. 
Bất Nhẫn rất khó chịu. Thêm vào đó, đàn con khóc đói chíu chít điếc cả tai. Nhè lúc vợ chồng chim tiếp tục cuộc cãi vã, Bất Nhẫn bỏ tay lên tai giật cái tổ chim vứt mạnh xuống đất và nói: - "Ðồ khốn! Chỉ có mỗi một chuyện đó mà chúng mày làm điếc tai ông từ sáng đến giờ".
Thế là công sức tu luyện của Bất Nhẫn sắp hoàn thành tự dưng vứt bỏ trong chốc lát.Nhưng Bất Nhẫn vẫn không nản chí. Trước tòa sen, chàng hứa sẽ kiếm tìm cách tỏ rõ sự hối lỗi của mình. Chàng tìm đến một khúc sông nước chảy xiết, tình nguyện làm người chèo đò đưa khách bộ hành quá giang mà không lấy tiền. 
Chàng quyết chở cho đến người thứ một trăm mới chịu nghỉ tay.Lần này Bất Nhẫn tỏ ra một người rất tích cực. Tuy bến sông thường vắng khách, chàng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Luôn trong hai năm chàng chở được chín mươi tám người mà không xảy ra việc gì.

 Một hôm vào khoảng giữa thu, nước sông tự nhiên tràn về chảy xiết hơn mọi ngày. Trời bỗng đổ trận mưa lớn. Giữa lúc đó có một người đàn bà dắt một em bé đòi qua sông. Bà ta có vẻ là vợ một viên quan sở tại; chưa bước xuống thuyền đã dọa Bất Nhẫn:- Chú nhớ chèo cho vững nghe không. Che mui cho kín. Nếu để chúng ta mà ướt thì liệu chừng kẻo roi quắn đít đó.
Nghe nói thế, Bất Nhẫn giận lắm, nhưng chàng nín được và vẫn giữ vững vẻ mặt tươi cười đáp:- Bà và cậu đừng sợ gì cả. Tôi xin cố sức.Rồi chàng vận dụng hết sức tài nghệ để đưa hai mẹ con nhà nọ qua bên kia sông được vô sự. 
Lúc sắp lên bờ, người đàn bà bỗng kêu lên:- Ta quên khuấy đi mất. Có một gói hành lý bỏ quên ở quán bên kia.
 Vậy nhà ngươi chịu khó chèo sang lấy hộ.Bất Nhẫn nín lặng cắm cổ chèo qua sông giữa sóng gió. 
Mãi đến gần tối, chật vật lắm chàng mới đưa được gói hành lý sang cho người đàn bà. 
Nhưng khi soát lại gói, người đàn bà nọ lại kêu lên:- Thôi rồi! Còn một đôi giày của thằng bé bỏ ở gậm giường. 
Thế nào ngươi cũng phải cố gắng lấy cho ta một lần nữa.Người đàn bà nói chưa dứt lời thì Bất Nhẫn đã giở tay chỉ vào mặt:- Cút đi đồ chó ghẻ! Tao có phải sinh ra để hầu hạ mẹ con nhà mày mãi đâu.

Nhưng người đàn bà ấy vốn là đức Phật Quan âm hiện hình xuống thử tâm tính người đệ tử khổ tu đó; bấy giờ lại hiện nguyên hình và cất tiếng bảo chàng:
- Nhà ngươi vẫn chưa thực tâm nhẫn nhục, như thế thì tu gì mà tu. 
Có tu hú!Bất Nhẫn thẹn quá đành cúi đầu nhận lỗi.Phật bà Quan âm sau đó bắt Bất Nhẫn hóa thành một giống chim mà người đời sau quen gọi là chim tu hú.
 Họ bảo thứ chim đó vào khoảng cuối hè sang thu hay xuất hiện, đúng vào lúc xảy ra câu chuyện giữa Bất Nhẫn với Phật bà.
                                  theo Wikibooks

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Em bé Việt ung thư máu và phụ nữ Phi hiến tủy

 Cô Cheryl Cabrera là người đã hiến tủy để giúp bé Tiffany Phạm thoát khỏi căn bệnh ung thư máu

Mọi cuộc hội ngộ trong đời đều đến từ những “cơ duyên”, có thể do mình định, có thể do trời định.Nhưng có lẽ, cuộc hội ngộ giữa hai người hoàn toàn xa lạ, mà người này lại là ân nhân cứu mạng của người kia, bao giờ cũng là cuộc gặp gỡ đẹp đẽ nhất.
Dễ thương, lanh lợi, hoạt bát là điều đầu tiên người ta nhận ra ở Tiffany. 
Khuôn mặt tròn đầy, không chút rụt rè, em cứ líu lo, “Con tên là Tiffany Phạm, 6 tuổi, con đang theo học chương trình ‘home school’, đến Tháng Giêng con sẽ vào trường học.”
Em cười vui, em tíu tít bên chị, bên mẹ, bên ba, và bên cả họ hàng, khác hẳn hai năm trước đây.
Chị Tina Vũ, mẹ Tiffany, kể, “Bé là con thứ hai trong gia đình, khi sinh ra bé hoàn toàn bình thường. 
Nhưng đến một tuổi rưỡi mới thấy bé có hai cục hạch bên mặt.
 Ði bác sĩ thì được chẩn đoán là bé bị ung thư máu.”
Sửng sốt là tâm trạng của người mẹ trẻ khi nghe tin đó. “Nghe con bệnh là đã buồn rồi, giờ lại nghe bị ung thư máu nữa.
 Trong khi gia đình không ai bị bệnh này, nên xuống tinh thần lắm, cả nhà ai cũng bàng hoàng hết.”
 Chị Tina nhớ lại.
Như những người bị ung thư máu khác, Tiffany phải trải qua những cuộc xét nghiệm, làm hóa trị, xạ trị trong đau đớn, và hy vọng để cứu sống cô bé đang trải qua những năm tháng đầu tiên trong cuộc đời là phải thay tủy, cần phải có người hiến tủy để cho em sự sống.
Mẹ em tìm kiếm khắp nơi. “Lúc vô nhà thương họ có giới thiệu có hội Hiến Tủy Á Châu (Asian for Miracle Marrow Matches - A3M) cũng giúp cho việc kêu gọi người hiến tủy cho bé, và đó là một trong những hy vọng của gia đình.”
 Chị Tina kể tiếp.
Theo lời Tina, “Cô Anh Nguyễn và A3M giúp đỡ rất nhiều trong việc tìm một người cho phù hợp với bé, khi hội đứng ra kêu gọi thì nhiều người sẽ biết đến hơn, mang lại hy vọng nhiều hơn là tự mình đi tìm.”
Trong lúc đó, Cheryl Cabrera, người phụ nữ Philippines có dáng người cao dong dỏng, đôi mắt to đen và mái tóc dài óng ả, lại sống trong một gia đình không có ai trải qua kinh nghiệm ung thư máu như thế. 
Nhưng theo lời cô con gái đang học ngành Chemistry, với ước muốn sẽ vào học ngành Y khoa, Cheryl ghi danh đi hiến tủy, vì biết rằng “có rất nhiều người cần tủy để cứu mạng”.
Một thời gian sau, chị Cheryl được bệnh viện gọi báo cho biết tủy của chị phù hợp cho việc cứu một em bé 4 tuổi. “Tôi vui khi nghe điều đó.” Cheryl nói.
Bằng giọng sôi nổi, chân thành, Cheryl kể lại những gì đã diễn ra trong ngày cô đi hiến tủy:

Tôi rất là sợ máu và cũng hơi sợ những phương cách đi cho tủy như thế. 
Khi họ đâm cây kim lớn vô, tôi đâu có dám nhìn. Tôi sợ. Nhưng đứa con gái út của tôi là người khuyến khích tôi nên làm và đừng sợ gì hết. 
Nó cứ nói, ‘Mẹ ơi đừng sợ. Mẹ làm được mà. Mẹ làm được mà.’ Ðiều đó giúp tôi bớt sợ.”
Trả lời câu hỏi “Sau khi lấy tủy ra rồi thì chị có bị bệnh bị mệt hay có gì khác thường không?”
Cheryl kể tỉ mỉ:
“Thấy người hơi yếu đi là thứ nhất. Thứ hai là hơi đau chút thôi, nhưng có thể những điều này có là do tôi nghĩ ra. Thứ ba là tôi nghĩ là tôi không thể lái xe một mình được nên con gái đưa tôi đi và chở tôi về. 
 Tôi đi hôm Thứ Sáu, đến ngày Thứ Bảy tôi vẫn cảm thấy mình yếu, nhưng mà thật ra thì tôi vẫn làm mọi chuyện bình thường trong những ngày đó.
 Ba ngày cuối tuần tôi ở nhà, ngày Thứ Hai cũng không có đi học đi làm gì hết.
 Thứ Ba thì tôi trở lại đi làm và thấy khỏe hơn, không còn cảm thấy chóng mặt, đau đớn gì hết. Vậy thôi.” Người phụ nữ có vẻ đẹp mặn mà cho biết.
Vào thời điểm đó, Tina Vũ, người mẹ mang trong lòng nhiều nỗi lo lắng cho đứa con gái bé nhỏ đang mang trọng bệnh, nghe tin tìm được người có tủy phù hợp cho con, chị cảm thấy “vui lắm, mừng lắm”.
“Vì bé đã làm hóa trị, xạ trị nhiều quá rồi, nên hy vọng cuối cùng chỉ còn có chờ chọn tủy phù hợp với bé để mà cứu sống nó thôi, nên khi nghe tin có người cho tủy hợp với bé, tôi mừng lắm.”
“Sau khi được ghép tủy, bé Tiffany cũng có bị chút nóng chút sốt phải đi vào đi ra bệnh viện vì đó là một phản ứng khi thay tủy thôi. Nhưng hiện nay thì bé khỏe
Hơn một năm sau khi cuộc ghép tủy thành công, bác sĩ báo cho gia đình bé Tiffany biết họ có thể gặp gỡ với người đã hiến tủy để cứu bé, nếu như vị ân nhân kia đồng ý.
Và cuộc gặp gỡ đã diễn ra vào đúng dịp sinh nhật lần thứ sáu của Tiffany Phạm, tại nhà hàng Palace Seafood, tại thành phố Westminster, vào Chủ Nhật rồi, trong vòng thân mật giữa hai gia đình người trao tặng và người nhận lấy “món quà” không gì đánh đổi.
Nếu cô bé Tiffany chỉ có thể tươi tắn nhận xét “Good. I'm happy to see her” về người đã góp phần mang lại cho em một cuộc đời mới, thì chị Tina Vũ, mẹ của em, tâm sự nhiều hơn.
Tina nói về người phụ nữ Phi lần đầu gặp mặt bằng thái độ trìu mến, “Gặp cô ấy lúc đầu cũng hơi lo sợ không biết cổ ra sao, cổ tiếp nhận mình như thế nào. 
Nhưng khi gặp thì thấy cổ rất tử tế, rất thân thiện, nên tôi cũng thấy rất vui khi gặp được cổ.”
Trong khi đó, trả lời câu hỏi của phóng viên Người Việt “Ngày hôm nay trông thấy em bé mà chị đã cho tủy, chị có cảm xúc như thế nào?” 
Cheryl xúc động, “Hôm nay được gặp Tiffany, và gặp hết cả gia đình của em, thấy tất cả đều thật là hạnh phúc và vui vẻ. 
Tôi có thể thấy hết tình yêu thương của họ. Thành ra tôi không cảm thấy hối tiếc gì hết trong công việc tôi làm. Không hối tiếc gì hết.” 
Cô cười, đưa tay quẹt nước mắt.
Trong số những người có mặt tại buổi gặp gỡ, mắt cũng lăn dài những giọt nước mắt của niềm vui và sự xúc động là cô Anh Nguyễn, người giữ vai trò hỗ trợ bệnh nhân gốc Việt của Hội Hiến Tủy Á Châu.
Cả một thời gian dài, cô Anh Nguyễn là người đã mang trước ngực mình bức hình của bé Tiffany Phạm cùng lời kêu gọi “Xin Cứu Con” đứng trước những nơi đông người qua lại để kêu gọi sự ghi danh hiến tủy của cộng đồng. Cũng chính cô là người đưa mẹ con Tiffany, cũng như nhiều bệnh nhân ung thư máu khác, lên các đài radio để kêu gọi sự giúp đỡ của đồng hương.
Như phần nhiều người làm công việc này, sự mẫn cảm với niềm vui và nỗi đau của tha nhân là điều đầu tiên người ta có thể nhìn thấy ở cô Anh Nguyễn.
Hỏi “là người kết nối công việc giữa người bệnh và người cho tủy, chứng kiến cuộc gặp gỡ này, cô cảm thấy như thế nào?” 
Cô Anh trả lời trong nước mắt, “Mỗi lần được chứng kiến một cuộc gặp gỡ như thế này thì cảm thấy sung sướng lắm. Cảm động lắm.”
Cô kể, “Gặp Cheryl, tôi ôm cổ, tôi khóc, cổ cũng khóc.
 Tôi cám ơn cổ đã nghĩ tới và sẵn sàng đi cứu một mạng người.”Theo lời cô Anh Nguyễn, “làm công việc này, thấy rõ ràng việc đi kiếm được một người giúp được bệnh nhân ung thư máu khó khăn lắm.
 Nhiều khi mình phải đi nài nỉ người ta, còn người bệnh đôi lúc thấy gần như mất hết sự hy vọng vì không kiếm ra được người cho.”
Chính vì thế nên, “biết khó nhưng tụi tôi cứ cố gắng, cố gắng hết sức làm sao để cho mọi người hiểu được là cho tủy là không đau đớn gì cả mà lại cứu được một mạng người.”
Vai trò của Hội Hiến Tủy Á Châu (A3M - Asian for Miracle Marrow Matches)
 Hội Hiến Tủy Á Châu, thường được gọi là A3M, là một cơ quan thiện nguyện phụ trách phổ biến và tuyển chọn những người tình nguyện ghi danh vào chương trình hiến tủy toàn quốc (Be The Match).
 Hội được một gia đình người Nhật thành lập từ năm 1991 và hoạt động trong các cộng đồng thiểu số như Việt Nam, Nhật Bản, Trung Hoa, Ðại Hàn, Thái, Lào, Cambodia, Ấn Ðộ và các sắc tộc quần đảo Thái Bình Dương và Châu Á.
Theo thống kê, trong những năm vừa qua, tỉ lệ người Việt Nam ghi danh vào các chương trình hiến tủy hoặc tế bào gốc còn quá ít ỏi, chỉ đạt được 0.5% của tổng số 7,500,000 người tình nguyện trên toàn quốc Hoa Kỳ. Trong khi đó, con số các bệnh nhân ung thư máu và các chứng hoại huyết ngày một gia tăng.
Tuy nhiên, điều mà cô Anh Nguyễn cảm thấy được khuyến khích nhiều hơn trong công việc của mình là “một vài năm trở lại đây, cộng đồng Việt Nam đã hiểu về chuyện hiến tủy, nên đã giúp hội hiến tủy rất nhiều bằng cách ghi danh nhiều để cứu người”.

“Năm vừa rồi cộng đồng Việt Nam có 49 người hiến tủy giúp người, không biết chính xác người nhận là Việt Nam hay người sắc tộc nào chỉ biết là người Á Ðông. Ðồng thời cũng có 19 bệnh nhân Việt Nam của tôi được đi thay tủy, những người này đều mạnh khỏe cả.” 
Cô Anh nói thêm.
Giải thích thêm về việc hiến tủy sống, cô Anh Nguyễn, thành viên của A3M nói, “Người ta thường cho là khi hiến tủy sống sẽ có nguy hại cho sức khỏe và có khi bị tê liệt nếu phạm vào hệ thần kinh nơi xương sống. 
 Thật ra đó là một thành kiến sai lầm, vì nếu có rút tủy bào thì cũng chỉ dùng một cây kim chích lớn đưa vào xương chậu dưới đai lưng để rút tủy mà không hề đụng vào xương sống.”
“Tuy nhiên với khoa học ngày càng tiến bộ, phương pháp ghép tủy bào ngày càng đơn giản hơn. 
Người ta chỉ cần rút ra một số tế bào gốc được phân lọc từ tĩnh mạch nơi cánh tay. 
Phương thức lọc máu tách ly tế bào gốc rất là thông dụng và không gây đau đớn cho người hiến tặng.” Cô Anh cho biết.
Là người có kinh nghiệm với bệnh ung thư máu từ con mình, chị Tina Vũ tâm sự, “Thực ra mình đã ghi danh hiến tủy trước khi con mình bị bệnh vì mình cũng đã biết về bệnh này rồi, từ lúc còn đi học, cũng có bạn bè kêu gọi vì trong gia đình họ cũng có người bị ung thư máu, cần thay tủy, nên mình đã ghi danh từ lúc đó.
  Với cô Cheryl Cabrera, người vừa hoàn thành một sứ mạng thiêng liêng khi mang lại một cuộc sống mới cho bé Tiffany, lại không chút ngần ngại, đắn đo để trả lời ngay, 
“Dĩ nhiên là tôi sẽ cho” khi được hỏi “Chị có nghĩ trong tương lai khi cần phải hiến tủy nữa thì chị có làm không?”
 link  ghi danh tên mình vào chương trình hiến tủy,
   www.a3mhope.org
                                                             NgocLan 

  @@tks những ân nhân thầm lặng đã cứu giúp biết bao những bệnh nhân ung thu máu ở Hoa Kỳ ...
 nghĩa cử cao đẹp thật đáng khâm phục , bạn có ý định hiến tủy nhớ liên lạc với Hội hiến tủy qua add:

A3M - Asian for Miracle Marrow Matches)  nha!!

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Cơ hội ở Atlanta và Orlando

Đúng là hôm nay tôi muốn viết về Atlanta và Orlando. Là hai thành phố lớn của bang Georgia và Florida nằm bên bờ Đông nước Mỹ. Nhưng các bạn đừng lo.
 Không phải tôi chỉ viết về chuyện du lịch, đi du hí đâu.
 Mà tôi muốn chia xẻ với các bạn về một số trải nghiệm của tôi sau 3 ngày cuối tuần gặp gỡ những người quen ở bên ấy.
Cũng lâu rồi tôi mới trở lại hai thành phố này. Atlanta là một trong những thành phố lớn nhất của Mỹ.

 Cũng như Orlando nằm xuôi về phía nam gần Miami không nhỏ hơn là bao.
 Nếu như Atlanta là nơi đặt bản doanh của tập đoàn Coca-cola, từng được đăng cai tổ chức Olympics, là quê hương của nhà tranh đấu lừng danh Martin Luther King thì Orlando lại ở gần biển, có vô số hồ lớn nhỏ và Disney World mới lạ, nổi tiếng hơn cả Disneyland ở Cali.
Phần lớn khách thập phương đến đây là để đi du lịch. Nhưng riêng tôi thì khác.

 Tôi đến để tiếp tục gây quỹ giúp những thuyền nhân còn sót lại ở Thái Lan.
 Sau hơn 23 năm lưu lạc nơi xứ người.Vì vậy những nơi tôi đến, những người tôi gặp đều là những người còn nặng lòng với câu chuyện thuyền nhân. 
Một câu chuyện mà chính tôi đây cũng phải lâu lâu thốt lên câu: ‘biết rồi, khổ quá, nói mãi!’.
 Đặc biệt là với các anh chị em đã cùng tôi một thời nằm gai, nếm mật ở Phi Luật Tân ròng rã 10 năm. 
Mà từ lúc sang Mỹ định cư đến giờ tôi mới có dịp gặp lại.
Đúng là thời gian trôi qua mau, quá nhanh.

 Và nước Mỹ rõ là nơi đã cho họ cơ hội làm lại cuộc đời. Sau gần 17 năm khó nhọc trên bước đường tỵ nạn.
Có nhiều điều làm tôi ngạc nhiên trong chuyến đi này, làm tôi suy ngẫm suốt hôm nay về một chân lý trong cuộc sống.


Thứ nhất, những người tỵ nạn Việt Nam cuối cùng này đã thành công mau và hơn những gì tôi tưởng. Họ chỉ mới sang Mỹ được sáu năm mà đại đa số đã tìm được công việc vững chắc, một số người đang làm chủ các tiệm nails và không ít người trong nhóm này đã mua được xe, được nhà.

 Mặc cho kinh tế của nước Mỹ có phần đi xuống từ lúc họ đặt chân đến Mỹ.
Hôm tôi bước vào ngôi nhà khang trang của một chị tỵ nạn trong nhóm này ở Atlanta tôi chỉ có thể lắc đầu không thể tưởng tượng được là chỉ trong vòng 6 năm, gia đình chị đã dành dụm đủ tiền để mua được một căn nhà to như thế, đã tự gầy dựng lại một cuộc sống đầy đủ và các con chị nay đã vào đại học. Ai cũng có xe hơi riêng để đi.
Trong khi tôi từ lúc ra trường đến giờ, sở hữu một chiếc cũng chẳng nổi!

 Điều thứ hai làm tôi ngạc nhiên là sự ‘nhớ dai’ của họ. Mặc cho thời gian có qua đi, có làm cho chúng tôi ai cũng già hơn 6, 7 tuổi nhưng những kỷ niệm của một thời khốn khó hình như không ai quên.
Chúng tôi đã cùng ngồi nhau ôn lại kỷ niệm đến 5, 6 giờ sáng. Từ chuyện nhỏ đến chuyện to. 

Từ những câu chuyện cười ra nước mắt cho đến những lần chúng tôi cùng ôm nhau khóc vì không biết phải làm sao, tương lai phải xử sự thế nào?
Hình như con người là thế. Chúng ta chỉ nhớ nhiều về những tháng ngày khó nhọc. 

Còn những lúc sung sướng, cuộc sống an bình, phẳng lặng thì không.
Điều thứ ba làm cho tôi ngạc nhiên là sự thành công và hiểu biết của con em những người tỵ nạn. Từ những đứa trẻ lúc tôi mới sang Phi Luật Tân chỉ mới lên 5, lên 10, đến hôm nay các em đã trưởng thành.

 Đứa đang học đại học. Có em đã biết cần phải làm gì để giúp những người còn kẹt lại. Như thân phận của chúng nó ngày xưa.hành thật mà nói, nếu như trước đây tôi cảm thấy rất vui sướng khi được biết là các em cuối cùng cũng có được những quyền con người căn bản như tôi: quyền được đi học, đi lại, có quốc tịch, có tiếng nói trong xã hội, v.v… thì trong tuần vừa qua, niềm vui sướng của tôi còn có xen một tí hãnh diện.
Tôi hãnh diện vì các em cảm nhận được sự khó khăn của những người đi trước và thấy được sức mạnh tiềm ẩn ở những thế hệ đi sau. 

Nếu họ được cho cơ hội để làm lại cuộc đời, chắc chắn họ cũng sẽ thành công như tất cả chúng ta.
 Như câu nói của nhà bác học Albert Einstein: ‘All that is valuable in human society depends upon the opportunity for development accorded the individual’. 
Tất cả những gì có giá trị trong xã hội đều tùy vào cơ hội phát triển dành cho mỗi người.
Sau bao năm ngang dọc đó đây, tôi nhận thấy đúng là không có gì quan trọng hơn ‘opportunity’.

 Hơn cả về sự thông minh, chăm chỉ làm việc, nơi mình sinh ra, hay sự thành đạt của cha mẹ, điều kiện tiên quyết để đi đến thành công cho riêng một cá nhân hay cho cả một xã hội là phải có được ‘cơ hội’.
 Nếu con người được cho cơ hội để học hỏi, để tiếp xúc với nhiều ý kiến khác nhau, để cùng nhau tranh đua cầu tiến, chắc chắn xã hội sẽ phát triển nhanh và mạnh.
 Ngược lại, cả xã hội và người dân sẽ yếu kém, thua thiệt nếu cả hai không có cơ hội để phát triển.
Đó cũng chính là lý do tại sao từ một anh dân quèn cho đến những nhà lãnh tụ độc tài quyền uy nhất ở những nước lạc hậu, nghèo khó, ai cũng cho con mình, là những người họ yêu quý nhất, đi du học ở Anh, Úc, Mỹ. 

 Để cho con họ có cơ hội được phát triển hết tiềm lực, khả năng. Chỉ tiếc rằng khi họ đã học thành tài, đã thấy và hiểu được nhiều điều, thì họ quay về chỉ để làm giàu cho chính họ và gia đình họ.
 Còn xã hội thì vẫn đầy rẫy những bất công, dân nghèo, thất học vẫn là những thành phần bị ruồng bỏ, chịu nhiều điều thiệt thòi nhất.
Và đấy cũng là điều làm tôi suy ngẫm suốt hôm nay. Chỉ cần có cơ hội là chúng ta ai cũng có thể làm lại cuộc đời, có được một cuộc sống an bình, đầy đủ.

 Chỉ cần có được một cơ hội là xã hội nào cũng có thể thay đổi được bộ mặt của mình. Trong một thời gian ngắn nhất.
Như những gì anh chị em tỵ nạn đã vừa chứng minh cho tôi.


                                                Trịnh Hội 
                                         ~ ~~~~ ~~~ ~~
             @   đồng ý vối  tác giả Trịnh Hội  25 % là cơ hội đem tới nhưng 75% là do sự cố gắng ,siêng năng + ý chí lẫn nghị lực của những g/d  VN tỵ nạn,sau bao năm chờ đợi mòn mõi tưởng chừng tuyệt vọng ở các trại tỵ nạn Phillipines +...

Gặp nhau trong Âm nhạc và Tâm hồn..

Chuyện tình giữa ca sĩ Họa Mi và nhạc sĩ Lê Tấn Quốc có tất cả tính chất bi tráng, oan khiên và hệ lụy của những cặp tình nhân, đã gặp nhau, yêu nhau, cưới nhau và xa nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một giai đoạn lịch sử đầy thảm khốc.

Đối với sinh hoạt về đêm ở Sài Gòn trước cũng như sau năm 75 và cho đến hiện nay, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều người biết tới.Một phần vì khả năng nhuần nhuyễn của anh qua các loại kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề cảm phục.Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.

 Chuyện tình giữa ca sĩ Họa Mi và nhạc sĩ Lê Tấn Quốc có tất cả tính chất bi tráng, oan khiên và hệ lụy của những cặp tình nhân, đã gặp nhau, yêu nhau, cưới nhau và xa nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một giai đoạn lịch sử đầy thảm khốc.
 Chàng nhạc sĩ khiếm thị ngày nay có thể không còn nhìn rõ mặt người yêu như những ngày đầu còn mặn nồng 1976 và cô ca sĩ ngày nay trên chiếc thuyền mới của cuộc đời với tất cả trách nhiệm gia đình trên đôi vai bé nhỏ.
Thế nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn một góc dành cho nhau, và góc riêng tư đó không cần nhìn bằng đôi mắt, góc riêng tư đó không có thời gian và không có không gian, góc riêng tư đó chỉ có tiếng chim Họa Mi hót bên dòng suối Saxo ngọt ngào mãi mãi.

Họa Mi yêu ca hát từ nhỏ và rất được sự khuyến khích của mẹ: "Nếu sợ ba con rầy thì con cứ hát nhỏ nhỏ cho má nghe cũng được", đó là lời Họa Mi tâm tình trên video Paris By Night Thúy Nga. Sinh 1955, Họa Mi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Việt Nam và được sự hướng dẫn về nghệ thuật của Nhạc Sĩ Hoàng Thi Thơ.
Hơn hai mươi năm rời sân khấu, rời Sài Gòn, Họa Mi đã có một cuộc đời khác. Hai mươi năm nhiều biến động, có thể nói là những biến động nghiệt ngã nhất của đời người, đã làm Họa Mi bình tĩnh hơn, nhẹ nhàng hơn vào những tháng năm này.
 Nữ danh ca thập niên 70 của Sài Gòn, giọng ca quen thuộc của đoàn Kim Cương những năm đầu giải phóng, phát hành album đầu tay "Một thời yêu nhau" khi bước vào tuổi 54. Khi số phận bắt chị phải lựa chọn, chị đã lựa chọn gia đình và những đứa con.
 Phía sau cuộc ra đi nhiều sóng gió của Họa Mi năm 1988 tới Pháp, ít ai biết, đó là cả một sự hy sinh thầm lặng đến quên mình…Sài Gòn là một ký ức đẹp, mà ở đó chị đã có tất cả. 18 tuổi, khi đang học Trường Quốc gia âm nhạc (nay là Nhạc viện Sgon)
, Họa Mi được nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ mời đến hát tại nhà hàng Maxim's, một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất Sài Gòn khi ấy. Và ngay từ những bài hát đầu tiên "Đưa em xuống thuyền", "Đưa em qua cánh đồng vàng", Họa Mi đã là một hiện tượng không trộn lẫn.
Họa Mi được đánh giá là một trong những ca sỹ hiếm hoi được học thanh nhạc bài bản, có nền tảng tốt.

 Chị nhớ lại, tên chị là Trịnh T.Mỹ, khi bắt đầu được đi hát, chị lấy tên là Trường My, nhưng ngay buổi đầu tiên đi hát, chị được ông bầu Hoàng Thi Thơ giới thiệu là Họa Mi, và đó chính là cái tên theo chị suốt cuộc đời ca hát.
Sau khi 1975, Họa Mi nghĩ mình sẽ không còn cơ hội để ca hát nữa. Khi ấy chị hai mươi tuổi và bắt đầu theo học ngành Luật.Cho đến một ngày, nhạc sỹ Ngọc Chánh đến tìm chị. Anh nói, thành phố thành lập một đoàn ca nhạc hát chung với đoàn Kim Cương. 
Và anh muốn chị đi hát lại. Khi ấy, đoàn ca nhạc gồm hầu hết những gương mặt quen thuộc trong giới ca nhạc sau này, như Thanh Phong, Phương Đại, Thái Châu, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Sơn Ca… Và chị đã tiếp tục con đường ca hát, với một phong cách mới.
Năm 1976, Họa Mi lập gia đình với nghệ sỹ saxophone Lê Tấn Quốc. Họa Mi nói, khi ấy cả anh và chị đều có hoàn cảnh giống nhau, nên rất dễ thương nhau.

 Họa Mi mất ba từ năm 11 tuổi và năm 18 tuổi mẹ chị cũng rời trần thế, bỏ lại chị một mình trong thành phố những ngày nhiều biến động. Hai người yêu nhau 6 tháng thì cưới.
 Anh vẫn thổi kèn cho chị hát. Và họ đã là một biểu tượng của hạnh phúc.
Nhà báo Cát Vũ nói, hình ảnh vợ chồng Họa Mi - Lê Tấn Quốc là "nguồn cảm hứng" cho lứa nhà báo trẻ của chị khi ấy.

 Bởi ở họ thể hiện được rất rõ khí chất và tình nghệ sỹ lâu bền... Họ đã sống với nhau hơn 10 năm và có với nhau 3 đứa con.Lê Tấn Quốc với chứng bệnh mắt bẩm sinh, mắt ngày càng kém hơn.
 Cuộc sống thành phố những năm 80 của thế kỷ trước bộn bề gian khó. Cặp vợ chồng nghệ sỹ vật lộn tìm đường sống để nuôi ba con nhỏ. 
Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn, nhưng lại không dễ dàng. Và năm 1988, Họa Mi có chuyến đi biểu diễn tại Pháp. Chuyến đi ấy chị đã không trở về.
                       .
...Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt: “Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam: “Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm.
 Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.”Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.
Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam. 
Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được.
 Anh nói: “Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại cho chúng nó ăn học”.
Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi.
 Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.
Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp.
 Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt.Nguyên nhân khiến họ chia tay không phải đến từ sự đổ vỡ hạnh phúc. 
Và cũng chẳng phải do lỗi lầm của một ai hoặc do một sự xung đột nào đó. Mà chỉ do đầu óc thực tế của cả đôi bên. 
Vì thật sự cho đến lúc quyết định như vậy, cả hai đều vẫn dành cho nhau những tình cảm rất tốt đẹp sau khi đã có với nhau 3 người con.hiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.                 
  Sự không trở về của Họa Mi gây ra những sóng gió lớn. Những chuyện sau này, có rất nhiều sự thêu dệt về sự ra đi của chị. Và người ta từng nghĩ, chị sẽ bị… cấm vận vĩnh viễn. Và việc chị ra đi, bỏ lại người chồng mắt bị lòa là một việc làm nhẫn tâm, vô tình vô nghĩa.
Nhà văn Nguyễn Đông Thức, một trong những người bạn của Họa Mi nhớ lại, khi ấy Họa Mi rất yêu chồng.

Và việc chị tìm cách ở lại Pháp, không phải để mưu cầu hạnh phúc riêng tư, cũng không phải vì mục đích chính trị hay bất cứ ham muốn nào khác, mà chỉ vì mục đích là tìm đường chữa đôi mắt cho chồng.
 Khi ấy, VN chấp nhận cho chị đưa nhạc sỹ Lê Tấn Quốc và ba con sang Pháp để anh có điều kiện chữa mắt. Nhưng, đôi mắt ấy không bao giờ có thể chữa lành. 
Ngay cả những bác sỹ giỏi nhất tại Pháp cũng đành ngậm ngùi lắc đầu.
Và, người nghệ sỹ từ nhỏ đã sống với cây kèn, quen với những đêm diễn, bỗng chốc phải thay đổi đột ngột, không còn không gian cho âm nhạc nữa, khiến Lê Tấn Quốc trở nên tuyệt vọng. Và anh trở về Việt Nam… Cuộc chia tay ấy mang nhiều nước mắt.

 Bởi, họ vẫn còn rất yêu nhau. Nhưng cá tính nghệ sỹ mạnh mẽ hơn rất nhiều.
 Câu chuyện tình yêu của Họa Mi - Lê Tấn Quốc đã thành giai thoại trong giới âm nhạc Sài Gòn. Bao nhiêu năm qua đi, câu chuyện ấy vẫn là một minh chứng sống của tình nghệ sỹ.
Chia tay nhau, xa cách đầy giông bão. Số phận đã buộc họ phải lựa chọn.
 Nhưng Họa Mi không còn cách nào khác, không thể quay về, buộc phải tiếp tục hành trình sống nơi xứ người, tìm cách mưu sinh và nuôi con. Họ vẫn quan tâm đến nhau, như những người bạn tri kỷ. 
Mỗi khi chị về nước, đều tìm đến thăm anh. 
Và khi Họa Mi làm đám cưới với người chồng mới tại nhà hàng Maxim's, cả gia đình và người vợ mới của Lê Tấn Quốc cũng đến dự.
Phía sau sự xa cách định mệnh lại là những tháng ngày thái bình. Bởi hơn ai hết, cả hai người từng yêu nhau đắm say, hiểu được cái giá của mất mát.


 Và, đến lúc này, họ vẫn thường xuyên quan tâm tới nhau. Trong đĩa nhạc mới sắp phát hành của Họa Mi, Lê Tấn Quốc vẫn thổi kèn đệm cho chị hát.
 Trong âm nhạc, họ chưa bao giờ xa nhau.Họa Mi nhớ lại, khi qua Pháp chị phải tìm mọi cách để được sống tốt và nuôi các con. Khi ấy, chị đi hát vì mưu sinh trong một nhà hàng của người Hoa. 
Thực khách của nhà hàng rất đa dạng, nhưng những người nghe chị hát không nhiều.
 Đó là những ngày rất buồn. Khi phải gắn đời nghệ sỹ vào với cơm áo, là khi người nghệ sỹ phải thỏa hiệp và chấp nhận nhiều thua thiệt.
 Khi ấy, cũng có những lời mời từ các trung tâm biểu diễn tại hải ngoại, nhưng Họa Mi không thể để bỏ các con lại, với những chuyến lưu diễn dài ngày.
 Thật lâu, chị tham gia vài chương trình ghi hình rồi vội vã trở về Pháp.
Năm 1995, Họa Mi lập gia đình với một kỹ sư gốc Sa Đéc. Anh đã sống nhiều năm ở Pháp và hoàn toàn không biết chị… hát gì. Nhưng họ đã yêu nhau thành thật.
 Cô con gái của họ đã bước vào tuổi 14 và anh cũng không còn làm kỹ sư nữa.
 Hai vợ chồng chị mở một xưởng sản xuất bánh ngọt giao cho những nhà hàng tại Paris.
...Trong lời đề từ đĩa nhạc "Một thời yêu nhau", Họa Mi viết: "Ngày thàng đã qua đi trong chớp mắt, tóc đã điểm bạc. Có chăng là kỷ niệm, là hạnh phúc, là khổ đau.
  Tôi muốn giữ mãi những phút giây quý giá của hạnh phúc. Tôi muốn tôi quên đi những chuỗi ngày của buồn đau, của những vết thương lòng đã chôn chặt từ lâu"…
                                  St unknow writer  

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Bảo Lộc – Thị xã mù sương


Nằm cách Saigon 186km, thị xã Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng – được mệnh danh là thị xã mù sương vì một năm có tới gần 100 ngày sương mù phủ kín...
Từ năm 1958, cái tên Bảo Lộc là một trong hai huyện của Đồng Nai Thượng, đó là Di Linh và Bảo Lộc (nay là Lâm Đồng) và Trung tâm huyện Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ, có ranh giới đến chân đèo Chuối, bọc theo thượng nguồn sông Đồng Nai, với 5 đơn vị hành chính. 
Bảo Lộc xưa là xứ B’Lao có độ cao khoảng 900m. Khí hậu nơi đây dễ chịu, một năm có gần 100 ngày phủ sương mù, nhất là trên đỉnh đèo B’Lao, mây trắng trập trùng tạo cho nơi đây một phong cảnh hữu tình. 
Chẳng thế mà VNCH đã chọn nơi nầy làm cái nôi cho Trường QGNLM (sau nầy đến CĐNLS...)do viện trợ Mỹ đóng góp và TT Diệm lên khánh thành . 
Phải công nhận một điều rằng, người Pháp thật tinh ý khi chọn vùng cao nguyên nhiệt đới này để thành lập Trung tâm trà cà phê..
 Và đã biến nơi này thành một cao nguyên chè nổi tiếng, ngoài nguyên liệu chè, Bảo Lộc còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa... 
 Là “vương quốc” chè xanh nên Bảo Lộc có nhiều danh trà nổi tiếng. Đến với quán trà Đổ Hự,Thọ Thái,Trâm Anh, du khách sẽ được thưởng thức uống trà, cà phê miễn phí. Quý Ông chủ hãng trà là một danh trà có tiếng, ông thường biểu diễn pha chế trà mỗi khi có khách quen.
 Trà Bảo Lộc luôn có hậu ngọt, vị thơm do nhà chế biến tẩm vào đó hoa sói là loại hoa rất hợp với thổ nhưỡng Bảo Lộc...
Nói đến Blao thì phải nói tới Cà phê Hạ Trắng,1 phong cảnh không thua Cafe Tùng Dalat (PNCO) Là một cao nguyên nên Bảo Lộc được thiên nhiên ban tặng cho nhiều đồi núi trùng điệp, có những dòng thác hùng vĩ nước mát quanh năm. Bảo Lộc có thác Đam B’Ri cao 60m. Đam B’Ri - tiếng dân tộc Mạ có nghĩa “chờ đợi” 

- Đam B’Ri là thắng cảnh đẹp là điểm du lịch nổi tiếng ở Cao Nguyên. Khu du lịch này rộng hàng trăm hecta.
 Quanh vùng có trảng cỏ phẳng lì một màu xanh thơ mộng... Ngoài các di tích thắng cảnh được công nhận,
 Bảo Lộc còn có khá nhiều suối thác hoang sơ len lỏi dưới các triền núi.
 Nhiều nghệ nhân như Lão ông Nguyễn Văn Toàn ở phường Lộc Phát khá nổi tiếng với bộ sưu tập bộ nhạc khí của đồng bào dân tộc; anh Võ Hà Lâm với những vật lạ, từ khúc cây hóa thạch đến những gốc rễ hình thù quái dị, viên đá rùa...Hiện nay, Bảo Lộc là một trong những điểm đến hấp dẫn cho du khách và tuyệt vời hơn khi tuyến đường cao tốc Dầu Giây - Đà Lạt hình thành, rút ngắn thời gian cho du khách đến Bảo Lộc – đến với thị xã mù sương...

                                          THANH LIỄU

               @@   lần nào đi Đà lạt trên đường về cũng không quên ghé qua Bảo lộc nghỉ ăn trưa và mua thêm ít trà làm quà biếu tặng người thân ,bạn hữu
 nhớ màu xanh ngút ngàn của đồi trà Bảo lộc

SÀI GÒN GÓC RIÊNG


Bây giờ ngồi uống cà phê hay nhấm nháp viên kem vani thả điệu đàng trong ly xá xị đầy bọt ở ngoài hiên toà nhà Sun Wah, nơi có không gian mênh mông đầy gió như Tây (nếu bỏ qua mật độ đặt bàn dày kịt), thong dong nhìn ra đường, khách chỉ để ý đến chiếc đồng hồ bốn mặt, tò mò muốn kiểm tra xem giờ của mặt này có chỏi với mặt kia không, hay xem trong hàng dài những xe hơi qua lại kia có chiếc nào thuộc hàng hiếm hay mang biển đặc biệt, chứ chẳng mấy ai ngồi ngắm cái khách sạn bên kia đường cao chỉ bằng nửa cái Sun Wah mà mình đang ngồi.
Thế nhưng cái khách sạn ấy ngày xưa là miếng mồi ngon để cha dụ dỗ tôi bớt mếu máo khi rời bỏ bạn bè hàng xóm xứ nghèo cùng ông dấn thân vào nơi mà ai có ý định đổi đời cũng-biết-là-nơi-nào-ấy. “Ở đó, nhà cao đến nỗi khi con ngước nhìn, mũ sẽ rớt”.

 Như thế là cao lắm. Là một thế giới khác rồi, khi mà thế giới trẻ con của tôi tự hào nhìn đều đặn mỗi lần lũ về, cả xóm chăm chăm chạy về hướng nhà bà ngoại, vì nhà bà có một căn gác nhỏ.
 Ngày đầu tiên đặt chân đến Sài Gòn, giữ lời hứa, cha dẫn tôi ra đứng trước khách sạn Hữu Nghị. 
Quả danh bất hư truyền, khi tôi mải mê ngước nhìn tầng trên cùng, ngay lập tức chiếc mũ biến mất.
Hồi đó, mũ vải là thời trang, có đủ các kiểu, nên sinh ra lắm bọn quen tay cướp mũ vải của người đi đường.
Sẽ không có cảm giác bỡ ngỡ lâu với Sài gòn, vì hầu như ai cũng từ một nơi nào đó đến.

 Nói chuyện ít thấy ai bảo “quê tôi Sài Gòn” mà đều như nhau; một chiếc xe đạp sườn ngang cọc cạch, chân đi dép.
Thói quen không đi giày (hay không có giày để đi) ấy dễ cũng phải kéo dài cho đến đầu những năm 90 sau này, khi tôi run lên vì lần đầu tiên được phát cho một đôi giày đen mõm nhọn hoắt để làm tiếp tân trong một khách sạn nhỏ, nơi tôi có nhiệm vụ chính là chào hỏi tiếng Anh với khách Đài Loan và cặm cụi hút bụi thảm trong sảnh vào mỗi 6 giờ sáng. Người Sài Gòn “đích thực” chỉ đơn giản là người cập bến đất này trước người khác, nên sành hơn và Sài Gòn hơn người khác một ít. 

Đó hẳn là những người ban ngày biến mất đâu đó làm ăn, tối tối xuất hiện ở nhà hàng Maxim’s, nơi mỗi lần vào nhà vệ sinh có người cầm khăn sẵn lau tay, mắt ngóng đợi tiền boa. Là trẻ con nên có khi tôi đôi ba lần vô tình được ăn theo vào những nơi mà cha tôi chẳng mấy khi có dịp vào, hoặc nếu có thì ông cũng tránh việc phải dùng nhà vệ sinh. Cái nhà hàng Maxim’s ấy đã từng là nơi hạng nhất xứ này.
Tuy nhiên, nếu được lựa chọn mà không phải chứng minh nhọc nhằn, tôi sẵn sàng tin rằng người Sài Gòn nhất chính là người sống lâu năm trong Chợ Lớn, vì đó là nơi lưu giữ được nhiều chất Sài Gòn xưa nhất.


 Sài Gòn như dòng sông, cứ trôi, mọi thứ dập dềnh đến rồi đi. Chợ Lớn như một cái hồ nhỏ, nơi mọi thứ đọng lại.
Người Chợ Lớn không chỉ có khí chất rộng rãi, vô tư lự như tôi vẫn được đọc từ những cuốn truyện mỏng về cầu chữ Y, những ngã sáu, ngã bảy, 
Thị Nghè mà còn là nơi lưu giữ những tập quán, sự thong dong, sự chung tình; nơi những đôi vợ chồng suốt bốn mươi năm cùng ăn duy nhất đôi đũa ngà được tặng ngày kết hôn cho đến khi đầu bạc trắng, cho đến khi những chiếc đũa mòn vẹt, ngắn cũn, đầu chuốt nhọn.
Người yêu Sài Gòn biết chọn chỗ để yêu, như người bạn tôi. 

Khi biết bến Bình Đông giải toả, anh lang thang bao nhiêu ngày liền để chụp hình những ngôi nhà cũ kỹ xấu xí còn lại, và khi đến lượt nhà của mình phá ra xây mới, anh quyết định thuê một căn phòng nhỏ ở Chợ Lớn để tá túc, để mỗi sớm mai được đánh thức bằng âm thanh tiếng Việt tiếng Hoa xì xào ngoài chợ luồn vào với nắng qua dãy song cửa gỗ, một căn phòng tranh tối tranh sáng tuyệt đẹp y hệt hang ổ của đôi tình nhân trong phim L’Amant (Người tình).
Tôi chưa thấy thành phố nào thay đổi nhanh như Sài Gòn. Chỉ đi vắng vài năm về đã bỡ ngỡ.

 Có nhiều quán xá biến mất. Nhiều chỗ hẹn mới mọc lên. Nhiều tên đường lạ.
Có lẽ vì tính chất hay thay đổi đó mà lòng người bị xáo động.

 Thơ ca, hát hò cũng ít hay, bởi để yêu được sâu, được dài lâu cần có sự ngừng lại, cần có sự bất biến tạm thời để cảm xúc được thong thả giãi bày, như Hà Nội. Yêu Hà Nội như yêu một cô gái làng, ta có đi đâu quay về vẫn còn đợi đó. Trong khi Sài Gòn như thiếu nữ thị thành, chỉ ngồi một lúc với mình ở quán đưa chuyện vài ba câu, rồi khi ta chưa kịp thấm ý ngỏ lời nàng đã đứng dậy đi mất.
Nhưng thật ra vị trí thành phố này là ở trong mỗi người chứ không phải ở những gì ta thấy. 

Muốn biết yêu thành phố này như thế nào thì cần đi xa khuất, đừng để những lô-cốt, vỉa hè xới tung làm ô uế sự thong dong của mình.

Ở nơi xa ấy ta sẽ lẩn thẩn nhớ, ngay chân cầu sắt Đa Kao ngày xưa có quán cà phê dưới hầm yên tĩnh kỳ lạ, nơi có một người đàn ông gầy gầy lịch lãm tên Nguyễn Ánh 9 chơi piano những giai điệu xưa, là một chốn riêng cho những người như cha tôi tìm đến, sau ngày dài túi dết miệt mài mua bán thuốc tây ở chợ Tân Định

Ta có thể hờ hững với khu đô thị mới Phan Xích Long, nhưng không bao giờ quên một bà béo tên Tây bán thịt với con dao to tướng ở lối vào vùng đất ngập nước mỗi mùa trăng có tên Cù Lao, mà mỗi mẩu thịt mỏng thần kỳ bà bán có thể phi đầy nồi nước kho làm căng bụng và bóng nhẫy môi một bầy trẻ con.
Và nhớ con kênh bờ kè chỉnh chu này từng là nơi cung cấp hằng hà sa số lũ cá sặt mà nhà ven bờ nào cũng săn bằng trò chích điện, và những con đò bán củi xếp thành từng núi những bó nhỏ cập bến mọi nhà.
Nhiều người bạn ở xa nay về Sài Gòn vài hôm đã đòi đi nơi khác, bảo thành phố này giờ hào nhoáng đấy nhưng tao không chịu nổi vì chung chung quá, giống bất kỳ đâu, lại đông đúc, đi lại mệt mỏi quá.
Nhưng bạn lầm rồi. Sài Gòn có bao giờ sống trong mỗi người bằng những hào nhoáng kia, mà ở những góc riêng. Và với thành phố này thì những góc riêng như thế luôn có, đủ cho tất cả mọi người.

                                      Phan Triều Hải .

Quán Ngon của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh

 
Người Quảng Nam ở Sài Gòn nếu thèm món ăn quê nhà thì sẽ nhớ ngay đến quán Chợ Đo Đo, người miền Bắc mê món Quảng cũng không thể nào bỏ qua Đo Đo. Quán chợ Đo Đo do nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lập ra, ban đầu là để thỏa nỗi nhớ nhung với quê hương của nhà văn đất Quảng.
 Theo ông cho biết, Đo Đo là tên một làng nhỏ ở Quảng Nam. Sau này, chính những món ngon của quán đã kéo thực khách từ khắp nơi về đây.
 Quán Đo Đo có hai địa điểm, một nằm ở số 10/14 đường Lương Hữu Khánh, Quận 1, Sgon và nhà hàng thứ hai mở sau, nằm ở số 22 Ấp Bắc, phường 13, quận Tân Bình.
 Cả hai nơi đều luôn đông khách, bất cả là trưa hay tối, mùa hè hay mùa đông.
 Thực đơn của quán có hơn 50 món ăn để mọi người lựa chọn, trong số đó, có các món đặc trưng, được nhiều người ưa chuộng như mỳ Quảng, bánh đập thịt nướng, bánh đập thịt luộc, hến, bánh căn, bánh bèo...Quán Đo Đo còn tạo ra cho mọi người một không gian xanh, có trúc, có bàn tre, ghế gỗ, khiến ai ăn ở đây cũng có cảm giác như mình đang ăn bữa cơm quê nhà. 
 Địa danh Đo Đo cũng chính là cảm hứng để nhà văn Nguyễn Nhật Ánh sáng tác cuốn truyện "Quán Gò đi lên", từng thu hút nhiều độc giả ở khắp mọi miền.
 Tuy nhiên, quán ăn Quảng Nam này cũng có nhược điểm, đó là do khách tới ăn đông, nên đôi khi bạn sẽ phải kiên nhẫn đợi các món đang được chế biến.
 Ngoài việc phải chờ đợi thì phong cách phục vụ dễ chịu của nhân viên và cách nấu vừa miệng là điểm thu hút nhiều thực khách.
Mời các bạn thưởng thức qua ảnh một số món ăn tiêu biểu của quán Đo Đo, được nhiều người yêu thích:
                          ~~~~~ Linh Phạm~~~~~~
                             @tks t/g NNA ,món Huế ,món Quảng hương vị quê nhà , bánh bèo ,cơm hến , bánh đập ... Cly ăn một lần nhớ mãi.... !