Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Thăm Thẳm Núi, Non.

     
                                   
 Mỗi lần đi vào tiệm rượu quen của anh bạn Thuận trên đường Brookhurst, kiểm lại túi tiền, thấy cái túi bớt phần hiu quạnh, lần ấy tôi thường ở lại tiệm Thuận lâu hơn. Đi tà tà một vòng qua những kệ rượu, trên vai kề vai cả ngàn nhãn hiệu danh tiếng của mọi vùng trời Lưu Linh thế giới. Chọn cho mình một chai “xuất sắc” hơn thứ uống khiêm nhượng hàng ngày.
Chọn. Chọn rượu - mấy vị làm thơ tình Nguyên Sa, Du Tử Lê cả đời chanh đường, xá xị chắc ở ngoài vấn nạn văn chương này - là cả một nghệ thuật, không phải chuyện rỡn. Nhất là chọn được rượu hay còn hợp với túi tiền.
 Dễ như anh chàng “Johnny Đi Bộ” ngày trước cả nước Saigòn cùng uống, cũng phải phân biệt.
 Sư phụ Johnny “cổ đen,” nhãn ghi đầy đủ mười hai năm bế môn luyện kiếm, chất men dịu, đằm cùng năm tháng, một vực trời hơn đệ tử Johnny “cổ đỏ” còn trẻ thơ tuổi ngọc tuổi vàng. Đến “Cognac” đã khó hơn một bậc. Có chai trong, có chai mờ. 
Cái nhãn “VS” cấp thấp lên dần tới Tỉnh Ủy “OP,” tới chót vót đỉnh Giải Xanh, Giải Bạc. Rồi tới Chát đỏ, còn phức tạp và kinh điển hơn nữa.
 Rượu chọn theo tuổi rượu, còn trên nơi chốn chào đời, trên mùa rượu xấu, tốt. Cùng một ngọn đồi Côte du Rhône, sườn đồi đông nhiều mặt trời, vị nho đã khác với đồi tây không nắng. Mỗi năm nho cũng một khác. Năm được mùa, nhờ thời tiết và mưa nắng thuận hòa, chưa cần ngon vì nấu, cất, rượu đã ngon từ trên cành ngon đi.
Vắn tắt, phải có thời gian, phải có năm tháng. Chưa tới được trưởng thành những đời người chưa đủ số nếm sinh nhật. Rượu ngon hệt vậy. 
Muốn xuất sắc phải một rừng nến thắp, đừng một ngọn đã cắt liền bánh ăn. Thâm niên, có quá khứ, rượu ngon hơn bội phần nhờ thời gian là người thợ hoàn chỉnh siêu việt, biến được rượu từ trạng thái khởi đầu xóc gắt tới cái trạng thái gấm nhung đậm đà, ông Lý Bạch uống một hớp uống cả nỗi buồn vạn cổ, cụ Tản Đà làm một tợp, thấy cả “nước đi đi mãi không về cùng non!”
 Trong “Chùa Đàn,” Nguyễn Tuân đã dành nhiều trang yêu ngôn để tả cái ngon tuyệt vời của hai nhãn rượu huyền thoại. Một là “Vô Cố Nhân”, một là “Ức Sầu Viên.”
 Rượu do thiên tài Út Lãnh cất riêng cho chủ, đã tới tột đỉnh của bí truyền mà chưa thể uống ngay, trong cánh rừng Mê Thảo còn phải đủ chín tháng mười ngày hạ thổ. Thời gian đất, nước phải tới tuần, trăng phải tới vận mới đúng.
 Nóng là không được. Phải chờ. Phải chờ mới có XO; mới có Giải Bạc, mới có Ức Sầu Viên. 
Là tửu đồ đời sau, tôi yêu lắm hai câu thơ tuyệt tác của Tản Đà, tửu đồ đời trước:
“Trăm năm thơ túi rượu vò
“Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai.”

Yêu cái nhịp lục bát lồng lộng. Còn yêu cái ý thời gian được nói trong thơ. Trăm năm thơ - ngàn năm rượu. 
Lâu chưa. Ghê chưa. Trăm năm, ngàn năm cả, chốc lát, chỉ là chữ và giấy mất tích, cái chất men làm cho nhức đầu. Suy diễn thêm, thấy đích thực thơ hay và rượu ngon, trong cùng một tiêu chuẩn, rượu và thơ hay từ cùng một chân lý. 
Phải mùa tốt trước đã. Mùa xấu, trái nho gầy, chế biến giỏi mấy cũng chỉ một thứ vin de table. Nho trồng trên ngọn đồi tâm hồn thi sĩ cũng vậy. 
 Xấu từ mùa từ gốc, mỹ viện cho thơ cách nào cũng không hóa trang được cái chất thơ dở thành hàng châu ngọc, đem dự thi Hoa Hậu Long Beach, rớt từ vòng đầu là tự nhiên thôi.
 Quan yếu hơn hết là yếu tố thời gian. Tôi gọi thời gian này là thời gian hạ thổ của thơ, là Cõi Thơ Bên Trong. Thơ trong đầu, trong tâm, thơ chưa thành tiếng thành lời, chính là cái mùa nho xấu hoặc tốt của từng thi sĩ. 
Địa hạt tiểu thuyết gọi đó là khoảng cách. Thiếu khoảng cách, tầm mắt chỉ nhìn thấy một phiến lá không thấy được toàn thể cánh rừng.
 Khoảng cách, trọng lượng, chiều sâu, gọi là gì cũng là thời gian cả. Thiếu thời gian là những cõi thơ thiếu tháng, đủ thời gian thơ là Vô Cố Nhân chín tháng mười ngày. Quy luật ấy của đời sống cũng là quy luật thơ. Từ những mạch nước dồn đẩy mới có con suối thủy tinh.
 Lúa mẩy hạt từ mạ lực lưỡng. Phải cả một mùa nắng mới có kết tinh của đường của mật, và một trăm đêm sương mới có một bình minh hoa nở đầy cành. Đó là vận trình của thơ đi tới thơ hay.
 Vận trình đó bao giờ cũng thấy ở những tài thơ lớn. 
Nhận định về người thơ và tiến trình của thơ hắn với chính hắn, thì thời gian gần đây Du Tử Lê làm thơ hay, có nhiều thơ hay, trong cái nhìn của tôi và như phiếm luận nhỏ về rượu ở trên về rượu, trước hết là bởi trên ngọn đồi Côte du Rhône ở Ranchero Way, nhà thơ vừa có một năm nho, một mùa nho đặc biệt. Rồi cất, nấu cũng tinh xảo hơn. 
Rồi hạ thổ nữa, đầy đủ tháng ngày. Những bài tôi yêu và cho là xuất sắc nhất trong “Love Poems” cho thấy rõ vậy.
 Rằng có thể vẫn trong dòng rung động trữ tình của những bài thơ đã làm trong quá khứ – tính chất đồng nhất của tác phẩm là bản thể bất biến của thi sĩ – nhưng chất thơ của thi sĩ bây giờ mới thật sự và hoàn toàn loại bỏ được cái xóc, cái gắt để chỉ còn cái đằm, cái đằm trong dáng điệu của bài thơ và hình ảnh của lời thơ.
 Rằng hầm rượu dưới đất, bông hồng trong tuyết, cõi thơ bên trong, con tầm và tơ vàng, cái chai mờ trong tiệm rượu của Thuận, một tiến trình đã viên mãn tới bến. Rằng thơ đã có “hương thời gian tím ngát”
 – Thơ còn có “màu thời gian thanh thanh” và thơ hay. 
“tôi ngồi trong cõi tôi, riêng
“bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng, rời
“phòng tôi trần thiết gương người
“tường sơn kỷ niệm, vách bồi dáng xưa
“tóc người chảy suốt cơn mưa
“ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão, về...”

Thấy chưa, thời gian. Ngồi thiệt lâu đấy. Không đứng ngay lên ngay. Ngồi kỹ. 
Tới ghế lạnh đi, bóng rời đi kia mà. Tới “ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão về” “vưỡn” cứ còn ngồi kia mà.
 Bởi thế thơ có “tháng tám về rất lạ,” có “tháng chín” nắng về còn kỳ lạ hơn nữa. 
Bởi thế có thơ hình người trong gương, dáng người trên tường, lấp lánh thật nhiều hình tượng sinh động trong căn phòng tâm hồn đó mà Du Tử Lê gọi chung là “Cõi Tôi Riêng.” 

“em về thăm thẳm núi, non
“hồn sông, lòng suối, thịt, xương chốn nào
“mai quên nhau, mất lời chào
“hôm nay chăn, gối vẫn ngào ngạt hương...”


Đêm ra mắt “Thơ Tình” ở Lup, tôi cũng có dưới gầm bàn một chai mờ. Bèn cùng Hoàng Anh Tuấn làm một ly cho “thăm thẳm núi, non,” cho “môi đưa bão về.” 
Rồi lên đọc mấy câu thơ trên của “Thơ Tình.”
 Được lắm. Thấy là hồn sông, lòng suối. Thấy là vách bồi dáng xưa. Thấy là tường sơn kỷ niệm. Thấy là thăm thẳm núi, non.

                                      Mai Thảo

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Bữa nhậu rau càng cua


Anh mới xây căn nhà, nhỏ thôi nhưng cũng gắng dành một chút đất chừng hơn mét vuông ngoài sân làm chỗ trồng cây, coi như có chút thiên nhiên cho mát mẻ căn nhà bê tông dày đặc.
Rồi một hôm anh thấy từ mảnh đất đó bỗng nhú lên một đám cỏ xanh mướt mắt. 

Anh định bụng rảnh sẽ kiếm cái cuốc dọn sạch thì một bữa có người bạn ghé chơi. Vừa nhìn thấy đám cỏ, người bạn reo: “A! Rau càng cua!
 Chiều này mình có bữa nhậu ngon rồi”.
Người bạn nổi tiếng khéo nấu ăn thời đại học với anh chạy vào bếp lấy cái rổ ra hái. 

Chỉ miếng đất chút xíu mà nhiều rau thật. Nhặt kỹ ngọn, rửa sạch rồi hong cho ráo nước, người bạn lục tủ lạnh. Anh ngần ngại: “Vợ chồng mình không thường ăn ở nhà nên tủ lạnh ít trữ đồ lắm”.
 “Không sao. 
Còn 2 quả trứng vịt, quả chanh, đường ớt, như vậy là đủ rồi”.
Quả chanh nặn hết nước ra một cái chén, pha thêm đường, nước mắm. Rau càng cua ráo nước được xếp ra một cái thẩu lớn rồi người bạn rưới đều hỗn hợp nước đã chế biến vào, trộn cho thật đều. Trứng luộc chín, bóc vỏ cắt làm 4 phần, xếp đều đặn lên trên thẩu rau đã trộn.
“Xong rồi

- Người bạn gọi
- Đem rượu ra đây đi”.
 Rau càng cua trộn chanh có vị hơi chua, ngọt thanh và giòn. Thêm miếng trứng bùi bùi ngậy ngậy đệm vào, anh ăn liền mấy miếng rồi thốt: “Tuyệt vời”. 
Người bạn hào hứng khoe kiến thức về rau càng cua, nào là rau này toàn tự nhiên mọc mà chẳng phải gieo trồng chăm sóc gì nên được xếp vào hạng rau siêu sạch, nào là càng cua chỉ làm món trộn mới ngon.
Nghèo thì trộn với trứng, với cá hộp, tôm khô. Cao cấp hơn thì với thịt bò xào tái, trứng cá hồi. 

Không dùng chanh trộn thì dùng dấm, sang hơn thì nước sốt Mayonnaise. Rau càng cua ăn mát, giải nhiệt và chống đau lưng nhức mỏi tay chân.
Rau mọc ở bất cứ chỗ nào, góc sân, mé vườn cho tới một nhúm đất cao trên nhành hoa lan cũng có thể tự nhiên một hôm có vài nhánh rau mọc lên. 

 Bữa nhậu chỉ có thẩu rau làm mồi, thêm mớ kiến thức cũng chỉ về rau nhưng cũng làm cạn hơn nửa bình rượu 3 lít.
 Và từ đó anh đâm mê món rau càng cua- quà tặng đến từ thiên nhiên.
Người bạn anh giờ đã đi xa đến nửa vòng trái đất, ngồi online với nhau luôn nhắc về những kỷ niệm xưa nơi quê nhà.

 Đặc biệt những ngày gần Tết, bạn lại đòi anh kể về không khí đón Tết.
 Hôm rồi đầu xuân, thấy đám rau càng cua bắt đầu nhu nhú, gặp bạn trên mạng anh bảo: “À! Đám đất nhà mình rau càng cua lại mọc rồi đấy. Hy vọng cậu sẽ về để làm món rau trộn”.
Đầu bên kia im lặng. Rồi những dòng chữ nhấp nháy hiện lên: “Trời ơi! Nhớ quê quá!

 Bên này làm sao có món rau càng cua trộn mà ăn bây giờ”. Rồi lại im lặng. Có lẽ bạn đang khóc.

                                            Trọng Thịnh

Những Giấc Mơ




Viết nhân chuyến đi Đài Bắc, một lần được nghe tâm sự của một cô dâu ViệtNam.)Có lúc trăng soi dạng lưỡi liềm, nhọn như dao, không khắc vào tim mà lòng vẫn nhói đau. Cũng có lúc trăng chênh chếch như giọt nước mắt khổng lồ thổn thức giữa bầu trời hiu quạnh đen tuyền màu u uẩn. 
Bao tiếng gió miên man rầm rì giữa hàng cây lá vẫn không làm trăng tươi. 
Trăng ủ rũ, trăng tư lự, trăng ngẩn ngơ buồn, trăng soi rọi tâm tư lũ con gái chúng tôi
.Tôi nằm bên chồng, nghe tiếng ngáy đều của anh mà thấy lẻ loi, cô độc vô cùng. 
Chợt thấy thương má, thương mình. Má đã bao nhiêu năm nằm một mình, hẳn má thấy lạnh lẽo, cô đơn trong đêm về tịch mịch. Nhưng còn tôi, hơi thở của chồng xoắn xít quanh đây mà sao sương đêm vẫn hoang lạnh?
Tôi phải tập yêu chồng tôi, vị cứu tinh cho đời sống chật vật của gia đình tôi. Điều này trên lý thuyết cũng không khó lắm. Nhưng trong trái tim ngoan cố của tôi, cho đến bây giờ sự biết ơn vẫn còn rõ nét hơn nỗi rạo rực yêu thương.
Tôi như hàng vạn người con gái Việt Nam về quê hương chồng Đài Bắc này để tìm một lối thoát cho cuộc sống vô vọng đã đeo đuổi chúng tôi ngay từ thuở lọt lòng. Quê mẹ nghèo quá, bàn tay mẹ gầy guộc quá, vì thế dù lòng mẹ có thật bao la cũng không giữ được lũ con gái chúng tôi ở lại vùng đất quê hương.Tôi ra đời sau thời chinh chiến. Nhưng má luôn đăm chiêu thở dài, hòa bình đã về nhưng sao đất nước lại đìu hiu tiêu điều hơn lúc nào hết. Ánh mắt má ngày càng da diết nỗi sầu muộn. Sau ngày thống nhất là ngày hận thù được thăng hoa, ba phải đi vào tù cải tạo. 
Má là cô giáo một trường tiểu học.
 Đất nước thanh bình, ai cũng nghèo, người ta cần gạo cơm chứ đâu cần chữ nghĩa nữa. Má như một kẻ thua trận, gồng gánh đưa lũ con về quê ngoại.
 Má giã từ Sài Gòn nhốn nháo, giã từ dĩ vãng, giã từ cuộc sống an bình ngày xưa. Má tảo tần nuôi con, nuôi chồng. Rồi ba cũng về sau những tháng ngày lao tù học làm người của xã hội chủ nghĩa. Rồi tôi ra đời. Và rồi ba lại ra đi kiếm tìm tự do trên những con tàu chơi vơi. 
Ba đi tìm tương lai cho cả gia đình, nhưng ba đã không bao giờ trở lại. Ba đã yên nghỉ trong lòng đại dương. Đã không còn phiền não, không còn trầm tư trong đôi mắt ôn nhu ngày nào. 
Chỉ thương cho Ba, ra đi trước khi được về thăm quê nội ở bên kia bờ Bến Hải.
 (Tôi đã được nghe chuyện kể về một dòng sông nhỏ nhưng đã có một thời là lằn ranh ngăn cách lãnh thổ độc tài phía Bắc và vùng đất tự do phương Nam).
 Ba ghé nhân gian ngắn ngủi nhưng để lại nỗi đau dài cho người cô phụ. Nụ cười hiếm hoi trên môi má đã tắt lịm từ ngày ba vĩnh viễn ra đi. Má vượt qua nỗi chết của tâm hồn, gắng gượng sống cho đàn con.
Má tôi vẫn mặc cảm, sợ lũ con thất học, cho nên vẫn cố gắng dạy chúng tôi học. Tựa như trong thời buổi gạo châu, củi quế, má bất lực không tìm được thức ăn đưa vào miệng mồm nên để bù lại má ra sức nhồi chữ nghĩa vào đầu chị em tôi. 
Bây giờ đôi khi nghĩ lại tôi vẫn thầm trách má làm những việc tào lao. 
Chút vốn liếng sách vở đã không đem được sự no ấm cho gia đình chúng tôi, có chăng chỉ rọi sáng tâm tư khắc khoải, nỗi hoài nghi trong một xứ sở đã thống nhất thanh bình. Nỗi bâng khuâng ngày càng lan tỏa, và cái nghèo túng như những mạng lưới chằng chịt, dù đã vùng vẫy chúng tôi vẫn không tài nào thoát khỏi sự bủa vây của túng quẫn, nhọc nhằn. 
Chị em tôi bó gối nhìn nhau, nhìn má ngày càng võ vàng vì những cơn bệnh trầm kha không phương tiện chữa trị. Để rồi một ngày, tôi vùng mình đứng dậy, đốt hết những giấc mơ vốn dĩ rất đơn giản đến tội nghiệp của mình, nhắm mắt, khép lòng đi tìm tương lai trong những nơi chốn lạ lùng.
 Ở đó chúng tôi đã hết là người, đơn thuần là những món hàng, quên hết kiêu hãnh ngượng ngùng, tôi đứng trơ khoe bày tấm thân thể ngà ngọc, danh từ má gọi yêu thương ngày nhỏ. Tại nơi chốn bát nháo đó, nơi mà ranh giới người và vật đã thật mờ nhạt, tôi gặp chồng tôi.
Chồng tôi thoát chết sau một cơn cháy lúc còn bé. Tai nạn này đã để lại những vết tích không xoá được trên gương mặt nhăn nhúm của anh làm cho anh có vẻ dữ dằn, hung tợn.
Cũng may là còn đôi mắt lấp lánh tình người, đôi mắt thật đôn hậu tương phản với nét cau có gây nên bởi những vết sẹo phỏng năm xưa.
 Cũng may là ngày đầu gặp gỡ, giữa chốn chợ người, anh đã không sờ soạng, nắn bóp tôi cho tôi quên đi cái mặc cảm mình là món hàng biết khóc, biết nói, biết đau, biết tủi.Mãi sau này tôi mới biết tại sao chồng tôi đã chọn ngay tôi gìữa bao nhiêu cô gái khác. Tôi đã biết tại sao anh đã chọn tôi mà không cần vạch mắt, căng miệng tôi ra khám xét như những người đàn ông khác.
 Tôi không đẹp nhưng tôi có cái may mắn nhang nhác giống cô láng giềng mà anh thầm yêu trộm nhớ ngày xưa. 
Sau này anh tâm sự, ngay khi chạm mặt tôi lần đầu anh đã giật mình tưởng được tao ngộ cùng cố nhân. Tất nhiên cố nhân đã thật xa ngoài tầm tay với của anh. Tất nhiên, người con gái ngày xưa đã chẳng bao giờ đoái hoài đến cậu thanh niên tật nguyền, dị dạng. 
Và bây giờ chồng tôi tìm niềm an ủi bên tôi. Đã bao nhiêu lần, tôi vẫn cám ơn thượng đế về sự trùng hợp huyền diệu này. Nó đã cho tôi cơm ăn, áo mặc, tiền thuốc men cho má và một mái gia đình với một người chồng dù dị hình, xấu xí, dù không đồng ngôn ngữ, không đồng quá khứ, dù gia đình chồng nhìn tôi bằng những ánh mắt lãnh đạm, đôi khi rõ nét miệt khinh. 
Mà có sao đâu những cuộc hôn nhân lệch lạc, má vẫn nói nghĩa vợ chồng bền chặt hơn tình yêu lãng mạn, mong rằng tôi và chồng tôi vẫn sóng bước đồng hành để trong đời sống của tôi không phải chỉ có những mất mát. 
Tôi nhớ ơn chồng nhưng chưa yêu anh được. Cho đến bây giờ mỗi lần ân ái, tôi vẫn phải nhắm nghiền mắt để che dấu nỗi e dè, ngại ngùng khi khuôn mặt nứt nẻ những vết thẹo dọc ngang của anh thật cận kề. Có lẻ vì chưa yêu nên tôi chẳng hề ghen tuông với người trong mộng của chồng.
 Hay khi người ta đã quá nghèo khổ, quá cơ cực, quá tuyệt vọng thì điều chúng ta băn khoăn nhất không phải là những yêu ghét giận hờn. Vả lại, ở xứ sở này, trong hoàn cảnh chúng tôi, cứ hãy ngu ngơ như cỏ cây, và phẳng lì như phiến đá để tâm hồn được an tịnh hơn là để những suy tư chao động cho lòng thêm chất ngất những niềm đau.
Tuy nhiên cái nghèo đói quá độ cũng có những khuyết điểm của nó. Cái nghèo đã như màn đêm dày dặc chôn kín giấc mơ tươi đẹp thời con gái. Những cánh đóm lập loè trên cánh đồng chết không có đủ sức để thắp sáng những giấc mơ đầu đời. Và những ngọn gió èo uột đã không chở nổi những suy tư của chúng tôi ra khỏi tầm hạn cơm gạo đói no. 
Hình như vì thế tôi đã đánh mất thói quen mơ mộng, có lẽ như thế lại hay.
Có những buổi chiều ra chợ, tôi thoáng gặp những đồng hương. Những cô gái thất thểu, mỏi mệt lạc lõng giữa rừng người. Tim tôi luôn nao nao nỗi xúc cảm, không phải vì đôi khi phát giác ra những vết tím bầm trên mí mắt vành môi của một hai chị bạn mà là nét đặc thù của nhân dáng Việt Nam trên thành phố Đài Bắc này; những chiếc bóng xiêu xiêu chịu đựng, những ánh mắt thảng thốt, hoang mang và buồn vô tận.
 Tôi tưởng tượng trong vô vàn cảnh vật, tôi khó mà lẫn lộn được những hình hài tang thương và lẻ loi đó. Các chị nhìn tôi ước ao thèm muốn: chị may mắn, một chồng một vợ. Còn tụi tui không hơn một món hàng hết qua tay người này lại đến tay người khác. 
Riết rồi không còn biết ai mới thật là chồng…
Hay là: kiếp trước tui ở ác, nên bây giờ phải chịu nghiệp quả. Mà thật, tôi đã quá may mắn, tôi không bị đánh đập, không bị chuyền tay từ người đàn ông này qua người đàn ông khác. Nhưng tim tôi vẫn khắc khoải, hồn tôi vẫn cô đơn, tâm tư tôi vẫn chia sẻ niềm tủi nhục của những chị bạn.
 Có nơi nào trên trái đất tuổi đôi mươi đồng nghĩa với những đường cùng ngõ hẹp như ở quê hương tôi?
 Tất cả chúng tôi đều ôm ấp một niềm đau, chúng tôi đã không bao giờ có tuổi thanh xuân. Hạnh phúc là một từ trừu tượng, tương lai đồng nghĩa với bấp bênh, vực bẫy. Có ai hiểu những khuấy động trong tâm hồn đã chịu nhiều thương tổn của lũ con gái chúng tôi mà xót xa tội nghiệp?
 Chúng tôi thường đọc thấy những nét rẻ khinh trong mắt người bản xứ, tôi thường phân vân tự hỏi mình đã làm gì nên tội ngoài cái tội dám mơ ước thoát cảnh khốn cùng. Chỉ mong sao những người cùng tiếng nói đừng khinh miệt những cánh chim phiêu bạt đáng thương của lũ chúng tôi.Có những chiều nhìn từng đàn chim bay về cuối trời, đôi khi nghe tiếng cánh vỗ chấp chới hai tiếng “về đâu”, “về đâu”; tim tôi rưng rưng khóc. Ở quê nhà tôi cũng nghe tiếng chim kêu trong nắng chiều chập choạng nhưng không thê lương như ở quê chồng. 
Về đâu, biết đâu mà về. Chúng tôi đã nhận nơi này làm quê hương nhưng tại nơi này biết bao nhiêu thân phận đàn bà Việt Nam đã bị vùi dập. Còn quê nhà tuy không xa tít mịt mờ nhưng như đã khép lối.
 Tôi nhớ hoài những ngày tuổi nhỏ, bên thân cầu, nhìn đám lục bình lênh đênh giữa dòng sông, lòng cứ thầm hỏi những cánh hoa tim tím này sẽ trôi về đâu. Bây giờ, bâng khuâng nhớ lại những cánh lục bình ngày xưa, tôi chợt ngậm ngùi, số phận mình đã như đám lục bình nổi trôi. 
Ôi những mảnh đời trôi giạt giữa dòng đời vô tình, biết sẽ ra sao ngày mai.Thật ra tôi vẫn còn quyến luyến quê hương mình. Một quê hương đã không biết nuôi dưỡng, bảo vệ những người con gái yếu đuối, đa cảm. 
Để trong đêm về trên thành phố Đài Bắc, có bao tiếng khóc Việt Nam, tỉ tê nức nở, khóc cho mình, cho những giấc mơ sớm bị tàn lụi. Lỗi về ai, trách nhiệm về ai? 
Trên đất nước với ngọn cờ máu, không ai có can đảm nhận. Và từng đàn thiếu nữ tựa những thiêu thân vẫn cứ ào ạt ra đi như nước tràn thác lũ. 
Có bao nhiêu thiêu thân đã cháy rụi trong ngọn lửa hững hờ, và có bao nhiêu người được sự may mắn tình cờ như tôi.Dẫu nhiều cay đắng, dẫu lắm oan khiên, quê hương ta đó, làm sao quên được.Đến một ngày, tôi không có tháng, người uể oải, chếnh choáng với những cơn nôn mửa bất chợt. Rồi giật mình, mình sắp có con.
 Tôi nhớ mãi cái cảm giác ngất ngây trước những diệu kỳ của đời sống. Lần đầu tiên trong đời, lạc lõng nơi thành phố này, trong tôi có sự kết tạo, có nỗi chờ mong và một tình cảm tuy đang manh nha nhưng đã thật dạt dào, mãnh liệt. 
Đêm đã thôi âm u trầm mặc, ngày đã bớt lê thê muộn phiền. Tiếng khóc chào đời của con chưa rơi xuống trần, nhưng ước mơ hạnh phúc đã vội vã vươn cao. 
Ôi cái sinh linh nhỏ bé đang nhỏ từng giọt hồi sinh nhiệm mầu trên tâm hồn héo úa của tôi. 
Ngọn lửa đã được khơi dậy từ những tàn tro. Tôi đã sống dậy từ bao nỗi chết.
 Trong tôi bao phác họa muôn màu về một ngày mai khi đứa con bé nhỏ của tôi bước những bước thơ ngây vào đời. Tôi lại bắt đầu nuôi dưỡng những giấc mơ. Rồi từng ngày tháng trôi đi trong háo hức lẫn băn khoăn tư lự.
 Con chưa mở mắt, nhưng tim đã ấp ủ bao lời tâm sự của má. Quê hương Việt Nam ngàn trùng xa mà những điệu hò ru con đã rất nồng nàn quanh đây. Con sẽ được nuôi dưỡng bằng dòng sữa mẹ, bằng trái tim tha thiết tình hoài hương. 
Ước ao sao con sẽ yêu thương quê ngoại như má luôn trân trọng nơi chốn má chào đời.Nếu một ngày nào, theo bước của ba, con về quê ngoại tìm người bạn đời. Con hãy nhìn bằng mắt và bằng tim. Đừng sử dụng đôi tay mà gây vỡ vụn những trái tim mảnh khảnh, nhỏ nhít, đáng thương.
 Tội lắm cho người con gái. Con có biết sau những nụ cười gần như vô cảm là những tiếng nỉ non, thút thít đến não nề, ai oán. Con có hay sau những thân thể toàn vẹn là những tâm hồn tơi tả với những đắn đo, sợ hãi, tủi hờn bởi quá nhiều giông bão chung quanh.Má ao ước, một ngày con lớn khôn, má để dành được tiền, ta về quê thăm ngoại. 
Về quê má, con sẽ hỏi tại sao quê ngoại nghèo quá, sao quê ngoại tiêu điều, buồn bã quá. Sao những người quê ngoại mang đôi mắt xa xăm, u hoài, như mắt của má. Má cũng như con đã không bao giờ biết đến một thời trên quê ngoại, mùa giáp hạt cũng là mùa nụ cười nở trên môi mọi người. 
Tiếng sáo diều dập dìu trên khắp nẻo quê hương, tiếng cười đùa trẻ thơ đã gảy nên những tấu khúc tuyệt vời của làng quê năm cũ, những năm quê ta chưa có ngọn cờ đỏ. 
Ta có sẽ bao giờ nghe được giọng hò trong thanh trên những cánh đồng thênh thang trĩu nặng bông lúa vàng của những ngày đất nước thật sự thanh bình. 
Ngày ấy có những thanh niên thiếu nữ sẽ để giấc mơ đầu đời, giấc mộng tình yêu bay bổng vươn cao qua gió ngàn, mênh mang trải trên những cánh đồng bát ngát để thấy tình mình cũng đơm hoa như những cánh đồng ngập lúa. Ôi những giấc mơ no ấm, an hòa bao giờ ta sẽ có…
Lời ngoại kể về quê hương êm đềm của ngày xưa cũ như một chuyện cổ tích. 
Nhưng má vẫn nuôi niềm mơ ước về một ngày mai quê ta hết nghèo đói cho những người đàn bà Việt Nam không phải thân cò lặn lội đường xa, làm dâu xứ lạ với những ê chề như những người trong thế hệ sinh sau ngày chiến thắng của phương Bắc.
Má sẽ đặt tên con là Sinh, sự Hồi Sinh của niềm hy vọng tưởng đã lụn tắt sau bao gió bão.
Má sẽ dạy cho con làm người Việt Nam thật sự, những người sanh ra từ bên này biển Thái Bình với tâm tư chất chứa hồn Quốc Toản, Bắc, Giang.
 Qua bao đói no thăng trầm, qua bao hệ lụy thử thách, xa quê hương, hướng về quê mẹ, má chợt thấy mình chín chắn trưởng thành, lòng yêu mến quê cha đất tổ trỗi dậy thắm thiết.
 Hơn bao giờ hết má thấy mình thật gắn bó với quê nhà lận đận.Việt Nam, Việt Nam, quê hương xa xôi quá, còn có bao giờ nhớ đến chúng tôi ?
 Xin một ngày quê tôi thật sự an bình để những người con Việt Nam có thể trở về nơi đất mẹ.
 Ngày ấy những giấc mơ sẽ thật sự được trổi mầm, cho trái tim Việt Nam được xanh một màu hy vọng, cho con người Việt Nam được kết sáng những giấc mơ kiêu hãnh.
 Ngày ấy đêm Đài Bắc sẽ thôi không còn tiếng khóc của những thiếu nữ lạc loài. Ngày ấy chúng tôi thôi hết kiếp luân lưu nhục nhằn.Xin một ngày, giấc mơ trở thành hiện thực!

                                                  CT B Ngoc

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

Nghe Kenny Rogers & George Michael



Những hàng cây xanh của Sài Gòn




 Những hàng cây xanh của Sài Gòn ngày xưa.
 Làm sao có thể quên được, phải không các bạn?
 Bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ đã ca tụng.
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều công viên mây trời xanh ngát 
 Uống ly chanh đường...

 
Mà không cứ gì nhà văn, nhà thơ, mỗi chúng ta đều thấy những hàng cây ấy là đẹp và mỗi người đều có kỷ niệm riêng ở một góc nào đó trên các đường phố của Sài Gòn năm xưa.
 Hãy nhớ lại xem... Đường Tự Do, Duy Tân, Nguyễn Du, Tú Xương, Huyền Trân Công Chúa, Hồng Thập Tự, Phan Đình Phùng, Pasteur, Công Lý, Bùi Thị Xuân, Chu Mạnh Trinh... đã bao lần in bóng anh và em.
 Có phải chúng ta từng nắm tay nhau đi trên những con đường ấy.

 Hay cùng đạp xe song song.
 Hay anh chở em bằng vélo solex... 
Anh bạn của Tim này - nhà báo KTuấn, nay không còn nữa - kể lại rằng những đêm khuya, từ phòng trà Đêm Màu Hồng ra, anh và TCầm thường đi bộ dọc theo đường Tự Do về phía Nhà Thờ Đức Bà, vừa đi vừa hôn nhau.
 Ôi, mê ly! Mà đâu có phải chỉ riêng bạn KTuấn làm cái chuyện cực kỳ lãng mạn ấy.
 Thành thật khai báo đi.
 Nếu có bạn nào từng ở Sài Gòn mà không qua cảnh vừa nói thì cứ đè đầu Tim này xuống mà cạo trọc lóc như ....! 
Riêng Nguyễn, xin thú thiệt cũng đã có đôi lần trên con đường Duy Tân hay ở góc công viên nào đó.
 Bởi vậy cho nên ngồi gõ máy những dòng này mà nhớ những hàng cây của Sài Gòn ơi là nhớ....

Mà hẳn bạn cũng biết những cái cây cho bóng mát lâu năm nhất trên những con đường của Sài Gòn là những cây gì. 
Đó là cây dầu, cây sao, cây me...
 Lác đác có cây cao su ở đường Tú Xương hay xế góc Hồ Con Rùa.
 Ngoài ra còn cây giả tị, lá lớn và xanh ngời, ở đâu đó trên đường Công Lý...
 Nghe nói còn có cây dái ngựa nữa mà Nguyễn không biết hình thù nó ra sao và ở đâu.
 Chắc phải tìm đọc lại cụ Vương Hồng Sển hoặc hỏi vị nữ nhân rành thổ ngơi và thảo mộc của Sài Gòn may ra mới hình dung ra cây dái ngựa. 
May thay, mới đây nói chuyện với Bảo Huân và Bảo Sơn, mới được sáng mắt:
 Gọi là cây dái ngựa vì trái của nó to và dài rất giống với...
 Riêng Tim Nguyễn chỉ biết một điều là cây dầu, cây sao, cây me là loại cây chậm lớn, phải cỡ vài chục năm mới cho bóng mát.
 Quả thật như vậy, nhìn lại những tấm ảnh cũ chụp đường phố Sài Gòn cách đây hơn trăm năm, bạn sẽ thấy những cây dầu, sao, me ở trung tâm thành phố còn thấp lè tè.
 Thế đấy. Để trồng cây mất cỡ chục năm.
 Mà trồng me trồng dầu và sao có khi phải tới năm bảy chục năm. 
Vậy mà các chức sắc CS ở Sài Gòn lại cho đốn đi, không thương tiếc.
 Em ơi, mai này anh và em có dịp trở lại thành phố ấy và đi trên con đường Duy Tân ngày xưa tìm đâu thấy những cánh dầu màu nâu bay bay xoay tròn trong gió để rồi rớt trên vai áo em.
 Những bông dầu khô ngày ấy đã chết tuyệt tích tự bao giờ.
Cũng với lòng hoài vọng lãng mạn, Tim xin mượn lời của nhà báo Nguyên Trang trên báo Trẻ nói thêm đôi điều về cây dầu:
 “Cây Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt, nên người ta cũng gọi là Dầu rái, hoặc có người gọi là Dầu dù.
 Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là hai cánh hoa thì đúng hơn. Lúc còn non có màu hồng pha màu càphê sữa, hạt lộ ở cuống hoa.
 Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội.
 Đến cuối Tháng Bảy thì trái dầu già khô lại.
 Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. 
Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rời khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất.”
Và nhà báo Nguyên Trang trở về với kỷ niệm tuổi học trò. “...
 ba tôi có lần dẫn tôi đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở.
 Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Đàn. 
Ba tôi đi trước, tôi theo sau giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như đang thám hiểm trong một cánh rừng già.
 Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những cái trái có hai cọng lá khô và hỏi tôi biết trái gì không, rồi bảo tôi quăng chúng lên trời.
 Kể từ sau đó những trái Dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi mà những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ.”

              Tim N 
          @@@ tks t/g !

                                                         

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Tô Thùy Yên





Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định,  học qua Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội Miền Nam trước 1975.
 Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích. 
  Còn có thời gian chúng sống và có mấy con với nhà văn nữ Nguyễn Thị Thụy Vũ. 
Sau 1975 Tô Thùy Yên ở tù gần 13 năm. Cùng bà Hùynh Diệu Bích sang Mỹ theo diện cựu tù nhân chính trị. Hiện đang cư ngụ tại Houston
Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo. Một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh
 "Thơ Tự Do"  trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960.
Cả hai tập thơ Tuyển Tập Thơ Thùy Yên (1995) và Thắp Tạ (2004) đều được xuất bản ở Hoa Kỳ sau khi ông đi tỵ nạn chính trị tại quốc gia này vào năm 1993.
                  
 ..Tôi có nói với bạn về bài thơ Mùa Hạn mà tôi không có đủ.
 Nhưng anh nói rằng bản thân anh cũng không nhớ hết.
Con đồng đã thăng rồi đâu còn nhớ những gì mình đã nói ra.
 Nhưng bữa ấy Tô Thùy Yên đưa tôi đọc bài Ta về - bài thơ vừa mới làm xong khi thi sĩ lưu đày vừa trở về nguyên quán:

Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này …

Thật ra tôi đọc thơ Tô Thùy Yên đã lâu. Giữa thập niên 50 khi Sáng Tạo bộ cũ ra đời với những bài Cánh đồng, con ngựa chuyến tàu hay Thân Phận của Thi Sĩ.
 Lúc ấy ảnh hưởng của văn học Pháp đối với miền Nam còn nồng đậm.
 Đây là thời buổi của Buồn nôn (La nausée – J.P.Sartre) của Kẻ lạ (L’Etranger – A. Camus) hay Phận người (La condition humaine – André Malraux).
 Sự hiểu biết của tôi về văn học Pháp rất là hạn chế nhưng tôi có cảm tưởng rằng thời kỳ thập niên 50, 60 là thời kỳ xâm lăng của triết học vào văn học. 
Những đặc trưng thường thấy của thơ, của tiểu thuyết, của truyện ngắn đã bị xóa nhòa đi. Thay vào đó là những vấn nạn triết học hay những thắc mắc siêu hình. 
Để làm gì? đi đến đâu? tự do hay không tự do – phi lý hay hữu lý?
 Sống và nghĩ như thế nào cho phải? Người ta không đi tìm những nguyên nhân gần gũi mà đi tìm những căn do đầu tiên và cuối cùng của sự vật.
 Tô Thùy Yên là một người đọc sách chuyên cần. Cái ý thức trong sáng của tinh thần nhị nguyên đã phóng ra những cái nhìn chinh phục. Con ngựa (trong Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu) phải chăng là một cố gắng nhằm đo đạc ngoại giới.

Có đọc được thánh thư
Linh hồn tôi vẫn vậy
Tôi vẫn không thể lạy
Dù đứng trước hư vô
Đầu tôi cứng và trơn
Thượng Đế làm sao ngự
Tôi đành trốn chủ nợ
Định mệnh đòi linh hồn
Thượng Đế điềm nhiên lạ
Tôi đánh liều cười khan.

(Thân phận thi sĩ)

Bài thơ mang giọng thách thức của Nietzche – đăng quang cho một cái ta Kiêu hãnh. Đây là thời kỳ Tô Thùy yên muốn trở nên một thứ “Vương tôn miền trí tuệ”.
 Tôi đã cảm phục, đôi khi sợ hãi những bài thơ ấy – nhưng thành thật mà nói tôi không yêu chúng.
 Sự cảm nghiệm một bài thơ, theo tôi, nó tùy thuộc vào tâm cảnh của từng người.
 Tôi là một anh học trò nhà quê ra tỉnh, tâm hồn còn vương vấn với lũy tre xanh, đình chùa, miếu mạo, căn nhà tổ, họ hàng làng nước, bờ mương, ao cá.
 Dù đã cố gắng lắm tôi vẫn không làm sao hiểu được “Tha nhân là hỏa ngục” của J.P.Sartre.
 Tôi rất sợ mình là “khách lạ” – và điều tôi ao ước là được đến gần, được làm thân, chia sẻ với mọi người.
Cái “hội u minh” thời ấy là một phong trào. Hoàng tử bi thương hay nhà thơ bị trù ếm (poète maudit) Đinh Hùng muốn đi khỏi cuộc đời này về miền nguyên thủy: “Thèm ăn một chút hương man dại – và ngủ như loài muông thú kia”.
 Vũ Hoàng Chương, bậc thi bá của làng thơ tiền chiến cũng bỏ thơ Say, thơ Mây nêu lên một băn khoăn triết học:

Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lở này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về …

Tô Tùy Yên ngay từ thuở ban đầu đã nghiêng về những điều thầm lặng lớn, mưu đồ đo đạc cả vô biên “ta về tắm lại going sông cũ, truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên
 – Tô Thùy Yên đã rất già khi còn trẻ. Già ở đây là già về tư tưởng, nên trong thơ của anh người ta thấy thiếu vắng sự lãng mạn, không có những nỉ non kể lể về một cuộc tình. Không có Kim Trọng, Thúy Kiều, cũng không có Paul và Virginie.
Vào khoảng giữa thập niên 60 có một việc, nhỏ thôi nhưng đã làm thay đổi Tô Thùy Yên. Anh bắt đầu đọc Đường Thi. Yên là một người ưa thích sự toàn hảo (gout du parfait). Anh không bằng lòng với những bản dịch.
 Yên muốn đọc thơ Đường bằng nguyên tác và Tô Thùy Yên học chữ Nho. “Học cho vui, chơi vậy mà”. Xuống Gò Vấp, thấy Tô Thùy Yên viết chữ Nho rất đẹp. 
 Và đột nhiên tôi được đọc một số bài thơ mang phong cách nhất nguyên của Đông Phương. Đọc thơ trước đây của Yên người ta thấy phảng phất St J.Perse – hoặc Valery – bây giờ thấy Tô Thùy Yên “Quy khứ lai từ” như Đào Tiềm quay về nơi bản trạch. Bài thơ không còn vẻ kiêu hãnh của một ý thức chinh phục mà mang vẻ ngậm ngùi chấp nhận:

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch
Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui
Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn
Càng nhẹ tênh hênh cõi ngậm ngùi.

Tại sao lại có con còng ở đây? 
Con còng làm liên tưởng đến con dã tràng ngoài bờ biển. “Dã tràng xe cát biển Đông – nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì?” 
Phải chăng đã đến lúc Tô Thùy Yên nhận ra sự hạn chế của kiếp người, có những miền “bất khả tri” mà trí lự con người chưa với tới được.
 Về nơi bản trạch đối với Tô Thùy Yên có nhiều ý nghĩa. Cái nhà của Yên ở Gò Vấp là nhà từ đường bao nhiêu đời ở đấy? Cái nhà không đơn thuần là một “dụng cụ” để ở, mà nó là môt phần đời ta, là chính ta.
 “Cái nhà là nhà của ta – ông cố ông sơ làm ra” nên cái nhà cũng như cái vườn, cái ngõ đều là sự tích yêu thương, là những liên hệ mà ta không làm sao dứt bỏ được. 
Về nơi bản trạch về nơi quê nhà (phải chăng le Royaume trong l’Exil et le Royaume mà Camus mơ tưởng cũng nằm trong nghĩa đó) đã dạy ta một điều: cái mà ta tưởng nó là cái không ta (le non moi) lại chính là ta. “Mình với ta tuy hai mà một – Ta với mình tuy một mà hai”.
 Cái nhìn nhất nguyên nơi Tô Thùy yên đã làm cho thơ anh từ đó về sau yêu thương hơn, thấm đượm hơn nhiều.
Nhưng có lẽ những năm tù cải tạo đã giúp chúng ta nhìn rõ cuộc đời hơn. “Ví thử cuộc đời bằng phẳng cả” chúng ta chưa chắc nhận ra chuyện ấy. Những chuyện nhỏ nhặt nhưng có giá trị rất cao.
 Không đi tù, không thường xuyên đói khát chúng ta làm sao biết được hạt cơm nó quý như thế - không xa vắng cửa nhà, chúng ta làm sao hiểu được cái thắm thiết trong vòng tay vợ, cái âu yếm trong cái hôn con.
 Người tù lưu đày, ngày trở về cảm ơn trời đất, cảm ơn vợ con, cảm ơn hoa, cảm ơn lá cỏ.

Ta nhìn lá cỏ long` mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân … 
 .....
Tôi đi về nhà có mang theo “Ta về”.
 Tôi đọc thơ bạn cho nhà tôi nghe:

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đá trổ bong
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông
Ta gợi thời gian sau cánh cửa 

Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Từ kiếp nào xưa tưởng lạc nhau
Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm

Đọc đến đoạn này, nhìn lên thấy nhà tôi đã nhạt nhòa nước mắt.
                                                             Phan Lac Phuc'