Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Xin Một Lần Được Gọi...


....."Em hiền ánh mắt nai tơ
Anh quên trang sách ngồi ngơ ngẩn nhìn"
("Chuyện Tình Tuổi Học Trò"
Cao Minh Hưng) 

Em ngồi đó với ánh mắt hồn nhiên chăm chú trên trang sách qua cặp mắt kính cận trong thư viện của trường đại học.
 Mái tóc em dài xõa nhẹ xuống bờ vai làm tôi biến thành kẻ si tình quên mất trang sách đang đọc dỡ dang. Rồi tôi cũng bạo dạn mon men đến gần để làm quen. 
 Ôi, ánh mắt và giọng nói của em làm tôi tưởng như vừa được uống ly chanh đường thật mát dưới cái nắng nóng của mùa hè. Đây là mùa hè thứ hai tôi không còn được nghe lại tiếng ve kêu giữa những hàng phượng vĩ như năm nào.
- Em sắp có lớp. Lát nữa xong lớp em phải về nhà.
Sau những giây phút ngượng ngùng ban đầu, em miễn cưỡng trả lời tôi như muốn tống khứ đi gã thanh niên từ đâu chợt xuất hiện.
Sau một hồi làm mặt lì đứng nói chuyện, tôi đánh bạo mở lời đưa em về nhà sau giờ học vì biết rằng em mới qua Mỹ cách đây không lâu và chưa có bằng lái xe. Em đáp lại lời mời của tôi bằng một ly trà nóng thay cho ly chanh đường khi nãy.
- Cám ơn anh, nhưng một lát nữa ba em tới đón.Vậy là mối tình vừa chớm nở của tôi đã có một "con kỳ đà" cản mũi. 
Cô bạn gái mới quen của tôi chắc thuộc loại tiểu thư có kẻ đón người đưa, mà người đó lại là ba nàng thì tôi còn hy vọng gì để tranh đua.
Tôi chuồn ra khỏi lớp học sớm hơn và đứng nép người dưới hàng cây phượng tím đang nở rộ để rình xem mặt ông bố nàng ra sao để còn nghĩ cách bày mưu tính kế. 
 Trời đã về chiều, mặc cho mấy con kiến không bỏ lỡ cơ hội cắn vào lớp da bọc "nhiều xương hơn thịt" của kẻ tị nạn mới qua Mỹ trước em khoảng một năm, tôi không dám cọ quậy mạnh sợ bị lộ.
 Cũng may ông trời thương cho kẻ tình ngay ý gian như tôi nên không bao lâu sau, một chiếc xe Honda Civic màu vàng nhạt đỗ lại sát bên lối đi mà các sinh viên thường đứng chờ người nhà đến đón.

 Trong tia nắng chiều yếu ớt còn sót lại sau tàn cây bươm bướm xa xa với những đóa hoa như những chú bướm màu tim tím đang vỗ cánh bay lập lòe trong gió, tôi cố giương mắt để nhìn cho rõ mặt người đàn ông đến đón em.
 Khuôn mặt ông nghiêm nghị với mái tóc hoa râm làm tôi hơi chột dạ. Ông trên năm mươi tuổi, dáng người gầy gầy.
 Trên khuôn mặt và dáng vẻ nghiêm khắc ấy chỉ có ánh mắt là lộ vẻ hiền từ làm tôi yên tâm được phần nào.
Thôi, coi như lần đầu tiên "giáp mặt" với ông như vậy là đủ rồi. Chiếc xe Honda Civic lăn bánh đi rồi mà tôi vẫn còn đứng ngẩn ngơ nhớ đến dáng em khép nép bước vào xe, rụt rè ngồi bên cạnh người cha. 
Tôi tự biết từ đây, để chiếm được trái tim em, tôi phải có thêm một sứ mệnh là chinh phục được cảm tình của ông trong khi thân phận tôi lúc bấy giờ chỉ là một cậu học sinh nghèo với cái xe Mazda cà tàng, không biết chút nữa có chịu nổ máy không.
 Vậy mà lúc trưa tôi còn bạo gan đòi "đưa em về dưới mưa". Có khi phải nhờ xe towing tới rước cũng không chừng...Những kỷ niệm của tôi với em, tôi hẹn sẽ kể với bạn ở một dịp khác vì tôi sẽ phải đóng thành một quyển sách "cẩm nang cua gái" để bán. 
Có như thế bạn mới biết tôi phải "cua" em cực khổ đến dường nào. Bây giờ tôi trở lại chủ đề của câu chuyện như đã hứa kẻo bị lạc đề.
Mấy tháng sau, em được "thăng chức" đứng bán nước đá chanh (lại chanh đường) ở khu chợ trời Costa Mesa vào những ngày cuối tuần. Tôi cũng mừng cho em vì dẫu sao em cũng được "ngồi mát uống bát nước chanh đường". 
Chẳng bù cho tôi vì muốn được gần em trong hai ngày cuối tuần và để kiếm thêm tiền mua sách vở, tôi phải lặn lội dưới cái nắng mưa ở khu chợ trời để dọn hàng cho bất cứ người chủ nào đồng ý thuê mướn với giá 3-4 chục đồng để dựng lều, dọn hàng và đến chiều thì thu dọn hàng. Hôm nào hên thì được chủ thuê ở lại bán hàng cả ngày, tôi được trả đến  $50-60. 
 Những lúc nghỉ xả hơi là tôi lại lân la tìm đến bên xe nước đá chanh chỉ tìm dịp để nói chuyện bâng quơ vài câu cho em biết tôi đang hiện diện quanh đây và cũng tiện thể "dằn mặt" đám thanh niên choai choai lượn qua lượn lại định chọc ghẹo cô bé "con nhà lành" của tôi.
 Giây phút hạnh phúc nhất là những buổi chiều khi mình mẩy còn ướt đẩm mồ hôi sau khi dọn hàng, tôi được nán lại để trò chuyện cùng em.
 Bao nhiêu câu chuyện muốn nói mà dường như thời gian gặp gỡ ở trong trường nói cũng chưa đủ. Hai đứa chúng tôi phải đứng nép sau bức vách tường của cái nhà kho chứa đồ trong khu chợ trời vì cách đó không xa, ngoài khu parking là chiếc xe Honda Civic màu vàng nhạt với bố em đang ngồi đợi trong đó.
- Anh nói mau mau nhe, ba em đang đợi ở bên ngoài kìa. Chỉ còn mấy cái xe ngoài đó thôi. Ba em biết đó.
- Nhưng mà anh chưa muốn về. Anh muốn đứng lại đây nói chuyện với em.
Tôi cứ làm lì tảng lờ như không biết thời khắc đang trôi qua. Khu chợ trời lúc ban trưa ồn ào người qua lại mà giờ đây chỉ còn tiếng khua leng keng của những ống thanh sắt dựng lều đang hạ xuống vội vàng. 
Những con quạ đen đang đáp xuống từng đàn ăn những thức ăn dư thừa bỏ lại trong những thùng rác to đặt khắp nơi trong khu chợ trời.
 Xen lẫn với tiếng động cơ của những chiếc xe hàng lớn có, nhỏ có đang chậm rãi rời khỏi khu chợ trời là tiếng kêu inh ỏi của bầy quạ.
 Nếu như những lúc khác, tiếng kêu của những con quạ này làm tôi rất bực mình.
 Nhưng trong cái không gian nhỏ bé đầy tình yêu của chúng tôi bên bức tường của khu chứa đồ, những tiếng quạ kêu nghe cũng thật trữ tình như những nốt nhạc trầm bổng của người nhạc sĩ thổi kèn lạc nhịp
 Đúng như câu nói mà tôi đã từng nghe, tuy tôi xin đổi lại một chút là "người vui cảnh có buồn đâu bao giờ". Hình như có tiếng còi xe vang lên, em giục tôi:
- Thôi em phải về, ba chờ lâu la em chết.Lúc đó tôi mới bừng tỉnh giấc mộng mà tiếc rẻ chia tay em. Thôi chào em nhé, con chim bé nhỏ của lòng anh. 
Tôi phải ngậm ngùi để em bay trở lại vào lồng chiếc xe hơi Honda Civic nhỏ, nơi có người cha nghiêm khắc đến lạnh lùng đang kiên nhẫn ngồi chờ. Không biết tôi có chủ quan hay không, nhưng linh tính của tôi báo rằng có lẽ ba của em biết chúng tôi hẹn hò vụng trộm sau giờ làm việc, nhưng ông không có vẻ gì giận dỗi hay la mắng khi thấy em bước vào xe. 
 Lúc bước ra theo sau, tôi có len lén gật đầu chào ông nhưng ông chỉ lặng lẽ gật đầu đáp lại chứ không lộ vẻ giận dữ với thằng con trai đã cả gan giữ con gái ông ở lại đến mười mấy phút sau giờ làm và bắt ông phải ngồi chờ.
 Hay có lẽ ông cảm thông cho sự cực khổ dãi nắng giầm mưa của tôi cả ngày bán sức lao động, nên ông ban cho chúng tôi ít phút phù du chăng. 
Mãi cho đến bây giờ, tôi cũng vẫn không biết chắc câu trả lời.Chiếc xe Honda Civic nổ máy chạy trước.
 Chiếc xe Mazda của tôi cũng lẹt đẹt chạy theo sau vì nhà em tuy không "ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn", nhưng chúng tôi ở cùng hướng. 
Tôi cố ý chạy lane song song bên phải xe của ông để được ngắm em, cô con gái cưng duy nhất của ông. 
 Lại thêm một lần nữa chắc ông thương tôi, thay vì đổi lane hoặc tăng tốc độ mà ông biết chiếc Mazda đời 79 của tôi không thể nào đuổi kịp chiếc Honda Civic đời 84 của ông, ông vẫn lái tà tà cho tôi bám đuôi theo cho đến khi đến ngã tư rẽ vào con đường nhỏ vào nhà em. Đến lúc nầy, tôi mới giơ tay ra hiệu chào tạm biệt và em cũng kín đáo liếc mắt nhìn tôi như muốn nói lời từ giã.
Thời gian thấm thoát trôi qua, tôi có đến nhà em một vài lần nhưng chưa bao giờ tôi ngồi nói chuyện lâu với ông. 
Tôi chỉ biết thêm ít nhiều về ông qua những lần em thủ thỉ bên tai tôi với một giọng kính trọng tuy vẫn ngọt ngào như ly nước chanh đường ngày nào mới quen trong thư viện của trường.- Lúc trước năm 75, ba em làm ở Sở Hải quan.
 Ba và mẹ lấy nhau đến gần mười năm mới có em nên ba mẹ mừng lắm vì lúc đó mẹ cũng trên 30 tuổi rồi. Hai năm sau thằng em trai ra đời. Sau năm 75, cuộc sống gia đình hoàn toàn thay đổi. Bao nhiêu của cải còn sót lại sau khi bị "đánh tư sản" đều dành dụm cho những lần vượt biên nhưng đều không trót lọt
. Cả nhà phải sống rất vất vả. Ba phải làm đủ mọi nghề để sinh sống.
 Tấm thân tuy gầy yếu nhưng ba vẫn phải gò lưng chở những bao than, bao củi đem bán.
 Em nhớ nhất một buổi chiều đi làm về, ba trông xanh xao, mệt nhọc khi bước vào nhà nhưng vẫn mang về quà bánh cho hai chị em từ những đồng tiền chắt chiu từ những chuyến chở hàng.
 Đã không biết bao nhiêu lần ba không ăn gì hết trước khi đi lấy hàng chỉ vì muốn để dành tiền cho hai đứa con có tiền ăn sáng trước khi đến lớp. 
 Đêm hôm đó ba mệt nhiều và ho ra máu. Em lúc đó chỉ mới mười mấy tuổi nhưng em đã nhận thức những hy sinh, vất vả của ba.
 Nhìn tấm thân gầy gò của ba quặn người theo từng cơn ho mà em chỉ mong sao cho mau lớn để phụ giúp cho ba. Mẹ cũng bận rộn buôn tần bán tảo, ít có thì giờ nên em gần gũi và hay tâm sự nhiều với ba. 
 Em vẫn nhớ những buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, ba chở em trên chiếc xe đạp cũ kỹ chỉ để mua cây cà rem mà ba biết em rất thích ăn....
Tôi cũng biết ngay từ lúc định cư ở Mỹ, ông đã lao ngay vào tìm việc để làm, tuy vẫn sắp xếp thời gian để đón em từ trường về vì không muốn em đi xe bus về nhà.
 Thằng em trai thì còn đi học high school ở gần nhà nên nó có thể đi bộ về.
 Tuy thương con gái "rượu" như vậy và lúc nào cũng sẵn sàng để bảo vệ cho con, vậy mà ông vẫn cho tôi cái cơ hội gần gũi và quen biết con gái ông dù chưa một lần ông hỏi dò xem tôi định theo học ngành gì, có dự định gì cho tương lai,
 Có lẽ kiếp trước tôi tu rất nhiều nên kiếp này tôi mới được ông đối đãi rất tốt như vậy chăng? 
 Tôi biết có bao nhiêu ông bố, bà mẹ hà khắc cấm cản đến độ làm tan vỡ bao nhiêu mối tình đẹp mà sau này khi đã lập gia đình với người khác và không có hạnh phúc, con cái đôi khi cũng thầm oán trách cha mẹ.
 Nhịp sống vẫn cứ trôi... Cuộc tình của tôi và em lớn dần theo năm tháng.
 Cả hai chúng tôi vẫn lao đầu vào việc học và làm việc những ngày cuối tuần. Tôi và em với bao dự tính, ước mộng cho tương lai. 
 Tôi vẫn không có nhiều cơ hội để gặp gỡ và tâm sự nhiều với ông cho đến lúc tôi bịn rịn từ giã em để chuyển trường đi học trên Los Angeles.
Tôi sẽ mãi mãi không quên buổi chiều hôm đó khi em gọi điện thoại với giọng nức nở báo tin ba em trở bệnh nặng.
 Những tháng ngày làm việc vất vả khi xưa cộng với công việc và thời tiết lạnh bên này đã làm cho bệnh cũ của ông tái phát. Tôi vội vã về thăm ông vào cuối tuần.
Lúc tôi ngồi xuống bên cạnh giường bệnh, ông chỉ nắm chặt lấy tay tôi mà không nói gì. Hai giọt nước mắt ứa ra trong khóe mắt ông. Lần đầu tiên tôi thấy ông khóc. Trông ông thật hiền từ không còn vẻ nghiêm nghị như mọi ngày. 
 Ông nhìn sâu vào đôi mắt tôi như muốn trăn trối một lời phó thác đứa con gái thương nhất của đời ông cho tôi. Tôi cũng ngẹn ngào không nói lên được lời nào. Chắc có lẽ giữa tôi và ông trong giây phút đó, một cái nắm tay, một ánh mắt nhìn cũng đủ nói lên tất cả. Ít lâu sau, ông mất.
Dự đám tang của ông, tôi như người bị hụt hẫng. Quì xuống bên cạnh và nắm lấy bàn tay đã giá lạnh của ông, tôi thầm cám ơn ông đã tin tưởng giao gửi tương lai hạnh phúc của con gái ông cho tôi.
 Tôi thầm hứa trước vong linh của ông tôi sẽ cố học hành nên người để không phụ lòng tin cậy của ông và chứng tỏ cho ông biết ông đã không nhìn lầm người.
 Tôi sẽ thay ông bảo vệ, chăm sóc và mang hạnh phúc đến cho em. 
Tôi sẽ thay ông chở em đi trên những con đường xưa, mua cây cà rem mà em thích ăn.
 Tôi sẽ sánh bước đi bên em suốt cả cuộc đời, như ông đã từng cho tôi lái xe song song với ông như ngày nào.
Chỉ có một điều tôi tiếc là chưa có được một lần nói lên hai tiếng "Thưa Ba", nhưng tôi tin rằng ở một nơi nào đó, ông vẫn nghe tiếng gọi từ đáy lòng tôi.

Anthony Hưng Cao 


Câu Cá Xứ Lạnh


Tôi sẽ kể cho bạn nghe chuyện câu cá nơi xứ lạnh và tôi tin là bạn chưa biết.
 Tại sao tôi dám đoán ẩu như vậy, khoan trách nghen, bởi vì tôi đã ở xứ nầy lâu lắm, mãi cho đến mấy ngày gần đây tôi mới biết được trò chơi nầy lần đầu...
Bạn ở một nơi xa, đâu dễ gì biết được. Trừ khi bạn du lịch qua đây, có người hướng dẫn đi câu cá trên nước đá thì mới biết được một trong những thú vui mùa đông là thế nào.
Mà nè, bạn có thiền hay tu hành không, nếu có thì dĩ nhiên là không được rồi, chơi trò câu cá là dành riêng cho người phàm tục, chớ đối với kẻ tu hành là phạm tội sát sanh đó, mình vui khi cá buồn, thiệt là tội lỗi, tội lỗi, không nên. Nhưng tôi nhớ mang máng là bạn cũng thích câu cá lắm mà...

Khi thằng con trai tôi điện thoại rủ về Montréal câu cá trên nước đá thì tôi đồng ý ngay, không do dự chút xíu nào.

Thằng nhỏ bị ảnh hưởng tôi từ lúc còn bé xíu, từ ngày định cư ở đây, vào mùa hè hai cha con suốt ngày thường kiếm bờ nước câu cá, bất kể trời nắng hay mưa, từ lúc mờ sáng cho đến đêm khuya..., câu cho vui chớ không phải để ăn vì cá sông St -Laurent bị ô nhiễm, các cơ quan truyền thông đều nói vậy và cảnh báo nhiều lần, thiệt ra mức độ ô nhiễm bằng cá bày bán ở siêu thị Việt Nam , Trung Hoa hay không, tôi không biết.
 Đi câu đối với đa số người lớn tuổi là một thú giải trí, thể thao nhẹ nhàng vào những ngày cuối tuần, giữa thiên nhiên khoáng đãng, hấp dẫn, thư thái, nhàn hạ, nhứt là ít tốn kém...
Sau khi nhận lời con thì tôi giựt mình nhớ lại, câu cá mùa đông đâu có giống như câu cá mùa hè. Dĩ nhiên là khác nhau rất xa. Tôi vẫn thường nghe bạn bè nói chuyện đi câu mùa đông và cũng từng coi truyền hình thấy cảnh câu cá của thổ dân Inuits, Esquimaux,..

. Họ mặc quần áo dày cộm bằng da thú, trùm kín cả người, mũ nón bao tay kín mít, khoét một lỗ tròn trên nước đá, ngồi co ro cầm cần câu chờ cá ăn mồi, giữa trời đất mênh mông tuyết phủ trắng xóa ở vùng Bắc Cực lạnh lẽo.

Tỉnh Québec của tôi ở đâu có cách xa Bắc Cực bao nhiêu, tôi tưởng tượng cách câu của cha con tôi sắp thực hiện, chắc cũng y vậy thôi.

Nhận lời con xong rồi mới thấy mình dại, ham vui một chút lại đi làm chuyện mạo hiểm, điên rồ. Câu cá suốt đêm đông trên một dòng sông lạnh lẽo, trong một làng nhỏ tên là Sainte-Anne-de-la-Perade, trên đường đi về hướng Québec.

Tại sao không đi ban ngày cho đỡ, đi chi ban đêm cho khổ sở, vất vả. Thằng con nói ban đêm câu đươc nhiều cá hơn... Trời đất !
Kể từ hôm đó, trong đầu tôi miên man tưởng tượng cảnh trên dòng sông mênh mông hiu quạnh, mặt nước đóng băng cứng ngắt, trời tối mò mò, gió lạnh thổi phần phật từng cơn, tuyết bay phơi phới, hai cha con trang bị quần áo mùa đông dầy mo, kín mít, đầu đội mũ , cổ quấn khăn choàng , tay mang bao tay , cả hai ngồi lom khom trên mặt nước đá, tay cầm cần câu quờ quạng chờ mong rình rập bắt từng con cá ngu dại đêm khuya đói bụng đi kiếm mồi.
Thiệt tình, không biết vui sướng ở cái chỗ nào !Ngàn năm trước, danh sĩ Đào Tiềm, người đời Tấn đã từng nói trong Qui Khứ Lai Từ một câu bất hủ, làm sao mà quên cho được

-Ký tự dĩ tâm di hình dịch hề, trù trướng nhi độc bi (bắt thân xác làm nô lệ cho lòng ham muốn, đó chẳng phải là điều đáng buồn của kiếp người sao !)
Cha con tôi bây giờ có khác gì câu nói người xưa, do lòng ham vui một chút mà đem thân xác phơi bày giữa tuyết gió bão bùng, giữa đồng không hiu quạnh mênh mông, tối tăm lạnh lẽo... suy đi nghĩ lại đâu có cái ngu nào hơn !Nhưng rồi lời hứa đã thốt ra, làm sao rút lại được, dù là hứa hẹn với con.
 Người ta làm được thì mình làm được, tại sao lại sợ sệt, rụt rè...
Thế là tôi bắt đầu lo lắng chuẩn bị. Ngoài trời lạnh giá, không có bao tay làm sao chịu nổi, cần phải móc mồi câu và rửa tay bằng nước lạnh buốt, tôi soạn lại các bao tay mùa đông, lựa lấy một bộ thật ấm và ít thấm nước.Phải có một cái mũ trùm đầu cho thiệt kín và dầy. Trời lạnh mà không có mũ trùm đầu, tôi thường thấy một cảm giác như xương sọ bị nứt ra.
 Dĩ nhiên là cần một bộ quần áo mùa đông thật ấm, bên trong lót bằng lông ngỗng trời (duvet), rồi bộ quần áo lót bằng len ấm, khăn quàng cổ... và nhứt là đôi giày tuyết cao cổ, ít nhứt cũng phải chịu đựng nổi suốt đêm ngồi đứng trên nước đá...
Tất cả đã chuẩn bị đầy đủ, mà trong bụng phân vân không biết có còn thiếu gì nữa hay không, trang bị như vậy có đủ không và tự dặn trong bụng là phải nhớ đi đứng nhè nhẹ, êm ái, nếu quên mà bước mạnh chưn, dậm thình thịch, rủi mặt nước đá nứt bể ra thì sao...

Lọt xuống nước là toàn thân lạnh quéo rồi, còn hơi sức đâu mà lội, rồi bám vào đâu mà leo lên, bờ nước đá trơn như thoa mỡ, rồi giữa mặt sông lạnh khuya khoắc còn có ai huỡn mà tới cứu mình ?
Tôi đã sống ở xứ lạnh nầy gần ba mươi năm, đã từng đi bộ ngoài trời trên cả giờ đồng hồ vào những lúc trời đổ lạnh trừ ba, bốn chục độ âm. Lúc gió nổi lên từng cơn thì độ lạnh càng xuống thấp khủng khiếp, khi đi ngoài trời, lạnh quá chịu hết nổi, tay chưn đầu cổ, vành tai, lỗ mũi...tê cóng, tất cả biến đâu mất hết chỉ còn duy nhứt trái tim đập thoi thóp, thì lẹ lẹ kiếm một nơi tá túc hoặc chạy lánh vô nhà cửa bắt gặp dọc đường hầu sưởi ấm lại toàn thân

Còn bây giờ thì già rồi sức yếu, bày đặt ngồi câu suốt đêm trên sông lạnh. Nếu nửa đêm lạnh quá, chịu hết nổi thì núp ở chỗ nào ?
 Trên mặt sông, giữa đồng không mênh mông hiu quạnh, trời tối mù mù, biết đi đâu, về đâu.Thiệt tình tôi không tưởng tượng được cảnh thê thảm khi đó tới mức nào... Không những tôi nghĩ như vậy mà những bạn bè quen ở Toronto khi nghe tôi về Québec câu cá mùa đông, đều hỏi một câu giống nhau -anh không sợ nước đá nứt bể sao
Rồi trời lạnh suốt đêm, anh lớn tuổi rồi chịu lạnh nổi không, khi buồn ngủ quá thì làm sao ? Tôi bèn nhớ tới thằng con, nó nói câu cá trên nước đá vui lắm, ba khỏi lo gì hết rồi không nói gì thêm nữa, cúp phone.

Hổng lẽ nó hại cho mình khổ sở. Mình là cha nó, mình khổ thì nó đâu có vui. Rồi tự dặn lòng, thôi đi đại, đừng sợ...

Nhưng mà bạn hiền nè, chuyện tưởng vậy chớ không phải vậy. Viết tới đây tôi đâm nhớ câu thành ngữ mới nầy, thiệt tình khâm phục cách nói chuyện dân Sài Gòn mình. Câu nầy áp dụng trong trường hợp câu cá mùa đông của riêng tôi cũng đúng nữa.
Những gì tôi tưởng tượng ra kể cho bạn nghe nãy giờ, đều khác xa thực tế. Quả vậy, chuyện tưởng vậy mà không phải vậy !.
Từ Montréal, sau khi mua sắm thức ăn và đồ dùng cho chuyến đi, cha con tôi khởi hành lúc sáu giờ chiều, mùa đông vào giờ nầy trời đã tối đen. May là xe chạy trên xa lộ nên đường xá quang đãng dễ đi, đoạn đường dài chừng hai trăm cây số, còn một đoạn ngắn nữa là tới thành phố Québec.

Khi xe ghé lại một làng nhỏ có tên là Sainte-Anne-de-la-Pérade lúc tám giờ rưỡi, thì tôi ngạc nhiên sững sờ lẫn thích thú, nhìn chỗ nầy chỗ kia, rồi đâm bật cười và thấy tất cả những gì mình ngồi ở nhà tưởng tượng ra đều trật lật hết trơn ! Đúng là quê một cục!.

Bạn hiền nè, bạn biết tại sao tôi cười không ? bởi vì nơi đây, chỗ xe cha con tôi dừng lại, cũng là chỗ câu cá đêm nay, không phải là đồng không hiu quạnh, cũng không tối tăm mù mù, cũng không vắng vẻ, quạnh hiu, cũng không thấy sông nước đâu hết... Vậy thì nó ra sao ?
 Tôi sẽ kể rõ từng chi tiết cho bạn nghe.Từ trên một con đường dọc bờ sông của cái làng nhỏ nầy, xe chạy thẳng xuống mặt sông hồi nào tôi không hay, chỗ nào cũng có đường xe chạy, liên tiếp nhau, không ngừng. Mặt sông đã đóng băng biến thành một cánh đồng trắng xóa rộng rãi, mênh mông.
 Trước mắt tôi là một thành phố nhỏ, chấp chóa, rực rỡ ánh đèn vàng, người đi đông đúc tươi vui, tiếng xe chạy, tiếng nói chuyện cười đùa rộn rịp.
Trên các con đường dọc ngang là các túp lều sơn trắng xinh xắn đẹp đẽ có lớn có nhỏ, lớn thì như cái nhà, nhỏ như cái lều, được sắp xếp chạy dài san sát theo lối đi. Ngay hàng thẳng lối trật tự, nhìn rất là đẹp mắt. Cạnh mỗi lều là hai ba cái xe hơi của khách câu đậu sát cạnh bên.

Đèn điện được thắp sáng ngoài đường, dọc theo lối đi, trên nóc lều, bên trong lều... chỗ nào cũng đèn đuốc sáng trưng, thiệt là vui mắt và ấm áp. Những người câu cá kéo nhau đi từng đoàn trò chuyện tưng bừng, đông vui.
Đa số khách câu tham dự là người dân Québec, thường họ đi chơi cả gia đình cha mẹ, bạn bè cùng con cái, đùa giỡn, cười nói giọng địa phương đặc sệt khó nghe.
Tôi rời xa tỉnh nầy hơi lâu, bây giờ mới nghe lại được giọng nói quen thuộc, cảm thấy gần gũi dễ thương (giọng dân quê Pháp thế kỷ 16, 17, một nghịch lý kỳ lạ là khi nghe giọng sang trọng Parisienne tôi lại khó chịu và không thích, hay là tại mình nhà quê rồi đâm ra hạp với tây nhà quê!) 
 Từng đoàn xe truợt tuyết chạy bằng xích sắt chỡ đôi (motoneige -Skidoo) đua nhau vun vút, tiếng máy kêu ầm ầm vang động cả trời khuya. Xa xa có vài chiếc máy cày màu vàng đậu im lìm lẻ loi, những chiếc nầy nặng hàng năm, mười tấn dùng để kéo các lều sắp xếp ngay hàng thẳng lối đặt trên mặt sông khi mùa câu bắt đầu...
Có vài đứa trẻ đang tập đi patin té lên té xuống... Nhìn toàn cảnh tôi cứ tưởng như là mình đang tham dự hội chợ (kermesse) của một địa phương nào đó. Cái làng câu cá nhỏ trên mặt sông đóng băng nầy chứa năm, bảy trăm cái lều cho mướn.

Mỗi gia đình mướn một lều tùy theo số người đông hay ít.

 Giá vé mỗi người là hai mươi đồng Canada. Nếu ít hơn bốn người thì giá tối thiểu một lều phải trả là tám mươi đồng.
Lều nhỏ ngang hai thườc rưởi, dọc ba thước chứa được từ sáu đến tám người. Lều lớn hơn ngang hai thước rưởi, dọc năm thước chứa được từ mười đến mười hai người.
 Lều lớn hơn nữa chứa tới hai mươi lăm người câu. Con nít dưới mười hai tuổi được giảm nửa giá và dưới sáu tuổi thì miễn phí.
Trọn buổi câu nếu muốn dùng cà phê, củi đốt lò sưởi và mồi câu thì miễn phí, muốn lấy bao nhiêu cũng được.
Câu cá trên nước đá thì xứ lạnh nào cũng có (ice fishing) tiếng Pháp gọi là pêche sur glace, cũng có thể gọi là pêche sous la glace hay pêche blanche, cá thì nhiều loại lớn nhỏ khác nhau, tùy từng vùng.
 Những xứ lạnh xung quanh Bắc Cực, mùa đông nước đóng cứng chắc thì có thể đi câu, nếu bạn chịu đựng được cái lạnh teo ruột teo gan.
Nhưng theo tài liệu được phổ biến mà tôi đọc được thì vùng Mauricie của tỉnh Québec là nơi duy nhứt trên thế giới có loại cá tên gọi là Poulamon Atlantique (tiếng Anh là Migragadus Tomcod), tiếng bình dân thường dùng là poissons des chenaux (cá sông rạch).

Vào năm 1938 một dân làng tình cờ thấy được trên dòng sông Sainte-Anne nầy, từng đàn cá poulamon lúc nhúc chen nhau trong một khúc sông nhỏ để đẻ trứng.

Mỗi năm vào giữa tháng chạp đến giữa tháng hai tây, tất cả chừng chín trăm triệu con cá nhỏ cở bằng cườm tay, mỗi con dài từ 15 đến 38cm, nặng chừng 45 đến 570 gr, da cá nâu đen, trơn láng hình dáng giống con morue hay là cod tiếng Anh 

(thời tụi mình hiểu sai cod là cá thu, do dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều, (Viện bào chế Cophavina) quảng cáo dầu gan cá thu là Liver cod, đúng ra cá thu là thon -tuna).
Chúng từ cửa sông Sainte-Laurent lội ngược dòng vô sông nhỏ Sainte-Anne, con mái bụng phình ra với cặp trứng to cở bằng trứng gà chứa hàng trăm ngàn trứng nhỏ, cá trống thì ốm nhỏ tong teo, bụng chứa đầy tinh trùng màu trắng sữa, khi cá mái đẻ thì cá trống xịt làn sữa trắng trên các trứng để thụ tinh, làm xong nhiệm vụ truyền giống chúng quay về biển.

Khác hẳn với tất cả loài cá khác như cá hồi (saumon...) chẳng hạn, khi đẻ thì chúng ngưng ăn uống, còn loại cá poulamon nầy khi đẻ thì chúng ăn uống liên hồi, nhứt là vào đêm. Phải nói con người thiệt là khôn, người ta lợi dụng khi chúng đói mà thả cần, làm sao không bắt thiệt nhiều cho được !
Tôi bước vào chiếc lều đẹp đẽ, vững chãi khá rộng, đã đặt mướn trước, chỉ có một cửa ra vô, rất kín đáo và riêng tư chỉ dành riêng cho cha con tôi. 
Hai ngọn đèn trăm watts chiếu sáng cả phòng. Trong phòng một chiếc ghế nệm dài dặt sát tường để khi ai mệt mõi thì có chỗ mà nằm, một cái bàn nhỏ, hai cái ghế, một tủ cây, một lò sưởi đốt bằng củi khô đang cháy nóng hừng hực.Trên mặt lò sưởi nóng hực đó mình có thể để chiếc ấm nấu nước sôi, để một vĩ sắt nướng bánh mì hoặc các món ăn khuya. Phía duới mặt sàn được làm bằng dán ép dầy trên cái nền bằng cây chắc chắn.
 Nhưng cái chánh tôi muốn thấy là chỗ câu trong phòng ra làm sao.
Nhìn kỹ đó là một đường rãnh sâu hình chữ nhựt, được cưa theo bề dọc của sàn trên mặt nước đá, dài ba thước, bề ngang chừng bốn mươi phân tây, nhìn kỹ phía dưới nữa, thấy nước đông đá cứng dầy chừng hai, ba mươi phân, dưới nữa là nước đóng váng mỏng lỏng bỏng, nhấp nhô theo từng cơn sóng. Có một thanh sắt to dài, đặt dọc ở giữa đường câu, để ngăn ngừa khi người câu mê man vô ý, tránh bị lọt xuống nước, nguy hiểm...

Bên trên chiếc rãnh đó, có băng ghế dài để ngồi câu.
 Phía trên, trước mắt tôi có một thanh gỗ được đóng theo bề dài của lều, cao hơn đầu người một chút.
 Hai mươi dây câu được quấn vào những hàng đinh trên thanh gỗ ngang đó, mỗi cây đinh được đóng đều đặn cách nhau khoảng hai mươi phân. Dây câu to bằng cọng bún nhỏ gắn cục chì nặng và dưới mỗi cục chì có móc hai lưỡi câu cở tương đối lớn, loại câu cá trê.
Mỗi vách lều đều có cửa sổ gắng kiếng, bên ngoài đèn đuốc sáng sủa, khi bên trong muốn kín đáo thì có màn cửa bằng vải che lại dễ dàng. Thiệt là tiện lợi đôi bề, chỗ ngồi, dây câu, chỗ câu, chỗ để mồi... tất cả đều trong tầm tay với.

Bên ngoài ở các túp lều kế cận, tụi tây đầm mỗi lần câu được cá, họ đua nhau la hét reo hò, tiếng vang lồng lộng giữa trời khuya, thiệt là hồi hộp và vui hết sức.
Tôi có một thói quen xấu, hễ mỗi lần đi câu, thấy sông nước là mê man quính quáng, bèn để nguyên quần áo mũ nón không kịp cởi thay, lụp chụp tháo từng sợi dây câu, vội vàng móc mồi để bắt đầu.
Mồi là gan heo đông lạnh được xắt nhỏ ra, có loại mồi bằng tôm tép nhỏ..
 Xung quanh người ta đã câu từ lâu, mình tới hơi trễ... phải lè lẹ, nếu không thì còn con nào mà câu với kéo!
Khi cha con tháo xong hai mươi sợi dây câu và gắn mồi đủ thả hết xuống rãnh nước bên dưới thì tôi toát mồ hôi chịu hết nổi, coi ra thì củi trong lò sưởi cháy đỏ rực, nhiệt độ trong phòng lên cao quá.

 Lạnh đâu không thấy mà mồ hôi toát ra đầy người, tôi phải cởi áo, tháo nón, tháo khăn quàng, và mở thoáng cửa cho hơi lạnh ùa vào.
Cửa vừa mở thì bên ngoài có vài người tay cầm chai bia, vừa uống vừa thò đầu vô chào hỏi, chắc là say rồi nên giọng nhừa nhựa, ồm ồm -tụi bây câu được nhiều không, tôi chưa kịp trả lời thì có thằng nhỏ nhìn vô thùng đựng cá, thấy có một con nhỏ xíu, bèn la lớn -ê ê, ông nội coi nè, cá thiệt là lớn, cá thiệt là lớn. Cả đám xúm nhau cười, chọc quê.

 Trước khi đi ông tây già nói nhắn -nếu tụi bây muốn nhiều cá thì qua bên tao, nhiều lắm, tao cho.
 Rồi có một cô đầm, cao lêu khêu, mặc đồ hề xanh đỏ (clown) quảng cáo chụp hình kỷ niệm, mỗi ảnh chụp với cô giá bốn đồng.
Đám tây đầm nầy vừa đi thì đám khác tới, chào hỏi, làm quen nhau, vui vẻ thân tình, ngoài đường thì mấy đứa con nít đi patin, năm ba cặp lớn tuổi đua xe trượt tuyết, tiếng máy nổ ầm ầm, vang động cả đêm không biết !
Trong đầu tôi phân vân tự hỏi, nửa đêm xe nặng chạy đua trên mặt sông như vầy, rủi nước đá nứt bể, thì chuyện gì xảy ra. Ở đời, chuyện gì cũng có thể xảy ra được mà...



Lại có tiếng gõ cửa, một người làm của công ty cho mướn lều, ôm tiếp tế một đống củi mới dành đốt suốt đêm.
 Lò sưởi đơn giản làm bằng sắt vuông vức, đặt cao hơn mặt sàn chừng một gang tay, mỗi lần đốt độ ba khúc củi to. Lữa cháy phừng phừng, thiệt là ấm áp.
Tôi bèn hỏi thăm vụ nước đá cứng mềm và có bao giờ bị nguy hiểm chưa. Anh nầy trả lời -dễ lắm, quen rồi, thấy là biết liền, nhìn nước đá trong xanh thì biết là cứng chắc, còn khi nào trắng hay đục mờ thì yếu bở.
trong lò phơi chưa khô lắm cháy nổ lép bép như tiếng pháo chuột ngày tết, thỉnh thoảng có tiếng nổ thật lớn khiến giựt mình.
Trời càng về khuya thì cá ăn câu càng nhiều, đôi khi gỡ và móc mồi lại không kịp. Cũng có nhiều lúc ngồi ngáp dài vì không có một con.
Những lúc đó phải chịu khó đổi mồi câu vì gan heo đã hết mùi thơm hấp dẫn cá rồi. Mồi để lâu trên năm phút là phải đổi mồi mới cho thơm ngon. Mồi bằng tôm tép thì cá mê lắm.
Cục chì phải thả cho sát đáy sông, sau đó kéo lên cao chừng một lóng tay (inch) hầu cho hai lưỡi câu nằm nghiêng theo mặt đất, phải đúng như vậy thì cá mới ăn. Tôi biết được điều nầy nhờ đọc được bảng hướng dẫn có vẽ hình rõ ràng gắn trên vách.
Chừng độ hai giờ khuya thì tôi chịu hết nổi, cơn buồn ngủ kéo đến và cái lưng sao mà mỏi quá chừng chừng. Thằng con tôi còn trẻ nên dáng còn tỉnh rụi, hết gỡ cá dây câu nầy tới móc mồi dây câu kia..

Tôi' qua nằm trên chiếc ghế dài mong tìm giấc ngủ ngắn ngủi cho đỡ mệt.
 Nằm thì cho có nằm vậy, chớ có nhắm mắt được đâu, cặp mắt vẫn ngó lom lom hàng dây câu có gắn diêm quẹt, làm sao mà ngủ cho được khi cá tranh nhau rỉa mồi.
Vừa nằm xuống chưa yên chỗ thì mấy cọng diêm quẹt tiếp tục đong đưa.
 Ở giữa mỗi sợi dây câu người ta gắn sẵn cho mình một cây diêm quẹt nhỏ, khi cá rỉa mồi dù nhẹ cách mấy đi nữa thì cây diêm quẹt cũng rung rinh, nhìn là biết liền. Như vậy là cá đương rỉa mồi, phải giựt lên ngay, nếu không thì uổng lắm..
. Mấy chục cây diêm quẹt cứ rung rinh hoài làm sao mà ngủ nghê cho đươc. Cứ như vậy mà cha con tôi thức suốt đêm cho tới sáng, gần một trăm con cá câu được thì quăng ra ngoài trời, ướp lạnh trong đống tuyết trước sân, coi chúng nằm lạnh tanh vậy chớ không chết đâu. Khi trở về để trong thau, đổ nước hơi ấm vô một hồi là chúng ngáp ngáp, cựa quậy, sống lại...

.....Bạn hiền, như vậy là tôi suốt đêm không hề chợp mắt vì mê câu cá, vậy mà khi thấy tia sáng đầu tiên le lói chưn trời xa, tôi đâm nhớ lại câu -tương dữ chẩm tạ hồ chu trung, bất tri đông phương chi ký bạch của đại thi hào họ Tô đời Tống (ôm gối mơ màng trên thuyền, nào ngờ vừng đông đã sáng trắng hồi nào không hay) .
Bận về cha con phải thay nhau mà lái xe, nếu không cơn buồn ngủ kéo đến thì xe lọt xuống ruộng chỉ trong một chớp mắt. Thằng con cười và hỏi -ba có còn sợ nước đá nứt bể hay lạnh lẽo gì không ?

Tôi cười trả lời -cái thằng, biết câu kiểu nầy thì tao đâu có sợ, tao cứ tưởng mầy tổ chức kiểu câu thể thao khoan lỗ trên nước đá ngoài trời như ở Alaska (ice fishing outside) , như của người da đỏ...
.Buổi đi câu đêm đó tuy vất vả, mệt mỏi nhưng rất vui.
 Cũng nhờ sự hiểu lầm đó mà tôi hiểu rõ tại sao, do đâu mà người Sài Gòn đặt được câu thành ngữ thần tình.
Một trong những thất bại đời người là do sự hiểu biết giới hạn nên thường tưởng tượng, mơ mộng, vẽ vời đủ kiểu, cuối cùng khi thực tế xảy ra thì lại khác hẳn cái biết mình nghĩ trong đầu - chuyện tưởng vậy chớ không phải vậy !
Câu nói mới nghe thì hơi cải lương nhưng đối với riêng tôi, người nào đặt câu nầy đầu tiên, sao mà khéo và hay quá sức, tại hạ thành tâm... bái phục, bái phục !

Võ Kỳ Điền 

 

Chợ Ve Chai Độc Nhất Sàigon-Chợ trời Paris


Người Sài Gòn vẫn còn thú nhâm nhi cà phê và la cà ngày cuối tuần. Sau một tuần làm việc người ta luôn cần bè bạn để giao lưu trò chuyện, một nơi để thư giãn đọc sách báo và thú dạo chợ la cà.
Ngày xưa quen gọi xả hơi cuối tuần và cũng là một nét văn hoá rất riêng của dân Sài thành và Saigonvechai với mong muốn tạo nên một sân chơi dành cho bạn bè một quán cà phê kết hợp những nhu cầu trên cùng sở thích sưu tập tại quán cà phê Cao Minh. Một sân chơi mang tính thử nghiệm.

Chủ của phiên chợ ve chai, anh Trần Khắc Dũng cho biết: “Thực ra sàn giao dịch saigonvechai.com đã có từ 6,7 năm trước. Nhưng chỉ là nơi để thỏa lòng đam mê của dân chơi đồ cũ, cũng có khi mua bán, trao đổi vài món đồ ai đó cần. Còn chợ thật thì mới hình thành cách đây hơn năm”.

Đến với chợ ve chai vào mỗi buổi sáng chủ nhật, khách hàng có thể tìm thấy đủ loại mặt hàng, vật dụng đã tồn tại một thời trong lịch sử. Điểm khác biệt giữa những món đồ này với hàng ve chai bình thường chính là giá trị lịch sử và lý lịch riêng của nó.

Theo các tay chơi hàng “độc”, muốn đánh giá một món hàng phải dựa vào niên đại, số lượng, những thông tin liên quan tới nó, đặc biệt là thông tin về người sở hữu hoặc trao tặng món hàng này. “

Hàng” càng lâu năm, số lượng càng ít, chủ sở hữu là những nhân vật “quan trọng” thì “hàng” càng có giá.Theo anh Dũng, có những món đồ với người này không còn giá trị sử dụng nhưng với người khác thì vô giá.

  “Tôi nghĩ, người chủ cũ không còn dùng được món đồ của mình, hoặc không thích dùng nữa, hãy tìm cho nó một người chủ mới, chứ vứt đi thì lãng phí lắm”.Không ồn ào, xô bồ, không có cả những tiếng ì xèo theo kiểu chợ búa hằng ngày… “chợ” saigonvechai còn là nơi thư giãn cuối tuần của những người đam mê thú vui hàng “độc”.
“Chợ” nằm gọn trong khuôn viên quán cà phê Cao Minh ngay trong hẻm cạnh cầu Bằng Ky trên đường Nơ Trang Long quận Bình Thạnh

Chợ toàn hàng "Vip"

Gọi là ve chai, nhưng những ai đã một lần đến với phiên chợ này đều “lác mắt” vì hàng ở đây đều thuộc vào “vip” những mặt hàng khó kiếm và đắt đỏ. 
Một chiếc hộp quẹt zippo chỉ nhỉnh hơn bao diêm có giá hàng trăm USD, những chiếc xe máy hiệu Mobylette, Vespa, Lambretta… được sản xuất từ những năm 40-60 của thế kỉ trước đáng giá hàng ngàn dollar , hay những chiếc máy ảnh, máy hát, đồng hồ, vật dụng tưởng chừng là… đồ bỏ lại khiến không ít người mê mẩn.
Chợ Sài Gòn ve chai được phân ra nhiều không gian trưng bày, bán hàng.

 Mỗi món đồ đưa ra bán đều được chủ nhân thuyết trình về giá trị lịch sử, nguồn gốc. Bất cứ thắc mắc nào của khách cũng được tận tình giải đáp. Và cũng có khi, người xem bổ sung thông tin cho chủ sở hữu món đồ, nên tất cả đều có cơ hội học hỏi lẫn nhau, hiểu biết thêm về thế giới “ve chai”.
Vì thế có những thứ chủ nhân của nó chỉ mang đến… “khoe” chứ không bán, dù được trả giá rất cao. Khách đến chợ ve chai quen có, mới đến lần đầu cũng có, khách thành phố, khách ở các tỉnh, kiều bào, cả người nước ngoài.

Anh Tuấn Linh (quận Tân Bình) là một người đi chợ thường xuyên, cho biết, hầu như chủ nhật nào anh cũng đến “sàn giao dịch”. Anh chia sẻ: “Nhiều hôm…đi chợ không tha về nhà được món đồ nào, nhưng không phiên họp chợ nào tôi bỏ. Bởi không mua bán thì mang về thêm kiến thức, bổ sung ở các lĩnh vực mình thiếu”.

Còn Bác Đại (quận Thủ Đức) cứ mỗi sáng chủ nhật lại đến đây mong tìm được một món đồ cũ nào đó mang về cho bộ sưu tập đồ cũ của mình.

Cũng có người đến chỉ để tìm mua một phụ kiện nào đó cho món đồ mình đang sử dụng. Trần Khắc Dũng còn khoe, các anh còn có hơn 100 đầu sách chuyên về xe, dân sành chơi xe hơi thường đến đây mượn nghiên cứu.
Ngoài ra anh còn có nhiều chiếc Rumi thuộc dòng Scooter rất quý hiếm. Dũng còn một chiếc Vespa đời 1953 do Pháp sản xuất. Chi tiết “Pháp sản xuất” chính là cái đáng chú ý. Vì thời đó, Vespa chủ yếu là do Ý sản xuất, chiếc Vespa trên của anh Dũng được người Pháp mang sang Việt Nam, chứ từ sau năm 60, nước ta mới nhập dòng xe Vespa...

Một thanh viên khác cũng thuộc “ban quản lý chợ” trịnh trọng đặt lên bàn chiếc khung gỗ lộng hai thanh kiếm Nhật sáng loáng (dùng để trưng bày trong phòng khách) và các phụ kiện đi kèm ghi rõ lò sản xuất ở Nhật Bản, “giá $700 dollar

.Kế bên khu vực pha chế cà phê và đồ ăn sáng, một người đàn ông tóc lưa thưa đang khui chiếc hộp gỗ chứa đầy hộp quẹt zippo, đồng hồ đeo tay, bút máy, nhẫn kiểu… xếp vào một chiếc tủ kiếng
.Phía trước sân khấu, một “tiểu thương” đang khệ nệ đẩy chiếc tủ nhựa đựng đầy phụ tùng xe máy cổ ra góc sạp của mình. Dọn hàng xong, anh chàng có vóc dáng đậm chắc, buộc tóc đuôi gà này lại hì hục dùng ống
bơm tay để bơm bánh chiếc xe Mobylette biển số CSQG - KA 0113 do Pháp sản xuất năm 1949.

Ngó nghiêng” trong gánh ve chai Sài Gòn, chúng tôi bắt gặp khoảng vài chục chiếc đàn piano cổ do Nhật, Nga, Pháp sản xuất, đã từng được sử dụng trong các nhà dòng xưa.

Như lời giới thiệu của chủ vựa, đó là những cây đàn âm thanh đầy cảm xúc, tinh tế, cổ kính...

 Trong gánh ve chai có cả những chiếc đèn dầu cổ từ thời Pháp thuộc, có cả bộ ván gõ đỏ mà theo lời người rao bán là có nguồn gốc từ Huế, qua tay thân sinh ông Lý Bá Phẩm, tỉnh trưởng Khánh Hòa trước năm 1975, rồi lưu lạc nhiều đời.
Ai đó vừa mua được một món đồ mới, dù đắt tiền hay không nhưng mang về nhà lại chán không muốn dùng nữa thì nó là ve chai. Muốn đẩy nó đi khuất mắt nhưng chẳng biết bằng cách nào, mà cho không thì lại... tiếc của.

  Đặc biệt với những người dọn nhà, đồ cũ rất nhiều: vài cái bàn ghế cũ, cái tủ tróc sơn, cái giường nệm thủng vài chỗ..., biết đâu mà rao, đành bán tống bán tháo theo dạng đồng nát. Từ chỗ đứng ra làm trung gian giúp bạn bè trao đổi ve chai, anh Danh nhà ở quận 10 cho biết.
Sài Gòn ve chai hiện có tới 300 thành viên, trong đó 50 thành viên cốt cán chia sẻ với nhau sở thích... ve chai và gắn bó với nhau qua các chương trình công tác xã hội, nơi những món đồ cũ như sách vở, áo quần, đồ chơi... cùng bao vật dụng khác trở thành món quà cho trẻ em nghèo.
 t/g Sgtt.


 Chợ trời Paris
Nhắc đến Paris nhiều người sẽ nghĩ đến Tháp Eiffel, bảo tàng Louvre, hay Khải Hoàn Môn trước đại lộ Champs Élysées nổi tiếng. Ðó là những biểu tượng về văn minh và văn hoá Pháp. Nhưng ở Paris có 1 nơi mà chúng ta không những có thể "nhìn" văn hoá mà còn có thể sống trong văn hoá. Hãy đi chợ ! Hầu như hễ có được chút ít thời gian rảnh rỗi thì người dân Paris xách giỏ đi chợ. Khắp các nẻo đường ở Thủ đô hoa lệ này đều có chợ. Chúng có thể là các khu thương mại cao lớn sầm uất, nhưng thường là các siêu thị nằm trong hệ thống bán lẻ rộng khắp nước Pháp như Auchan, Carrefour, ... 

Nhưng tôi muốn nói ở dây là những khu chợ ngoài trời, mà chúng ta vẫn quen gọi chung là "chợ trời".Thật ra chợ trời ở Paris không phải chỉ là các khu chợ bán đồ cũ. đồ rẻ tiền, kém chất lượng như chúng ta vẫn nghĩ. 
Ở đây có những khu chợ mà người ta đem bán những sản phẩm tươi sống mới thu hoạch từ những vùng ven Paris, mà chúng ta sẽ khó có thể tìm thấy trong siêu thị.Và đương nhiên, giá cả vì thế cũng không rẻ chút nào.
 Cũng có những khu chợ không bán thức ăn mà chủ yếu bán đồ điện tử, quần áo, chén dĩa...có khi là đồ cũ, nhưng đa số thì vẫn còn trong hộp mới tinh. Paris còn có những khu chợ đồ cổ đông nghịt người.
 Ðúng vậy, thật kỳ lạ, thật khó tin khi có ...quá nhiều người quan tâm đến đồ cổ như thế! Mà Paris đâu phải chỉ có một vài khu chợ đồ cổ mà rất nhiều, nhiều đến nỗi dù có ở Paris suốt 1 năm ta cũng không thể đi hết đươc. Vậy mà không có chợ nào vắng vẻ hết.
 Nguyên nhân một phần cũng vì chợ đồ cổ thường được tổ chức vào cuối tuần ngày mà ai cũng muốn ra ngoài sau cả một tuần làm việc căng thẳng,(một ngày làm việc thường kết thúc rất muộn, nên không còn thời gian ra ngoài như người VN).
 Và có những khu chợ chỉ tổ chức vào những khoảng thời gian nhất định trong năm, được quảng cáo khắp nơi và được người dân chờ đợi . Có gì trong những chợ trời đồ cổ đó?
 Dĩ nhiên là đồ xưa, đồ cổ rồi. Nhưng cũng có thể là đồ cũ, đồ giả cổ hoặc là đồ mới 100%, nhưng chúng đều phải ít nhiều mang tính mỹ thuật.
 Người ta vẫn thường bỏ ra cả trăm euros cho 1 chiếc lọ thủy tinh mới nhưng mang nét mỹ thuật cao. Nếu không kể những du khách hiếu kỳ, thì những người đến với chợ trời đồ cổ thường là những người hay sưu tầm, chuộng mỹ thuật và thích cái xưa. Ðương nhiên họ cũng có thể tìm đến những tiệm đồ cổ "trong nhà" chứ không cần ra "ngoài trời" như ở đây.
 Nhưng khó có tiệm đồ cổ nào phong phú hàng hoá và giá cả "dễ chịu" như ở đây.
 Nói vậy chứ cũng không rẻ tí nào, nhất là dưới con mắt người Việt Nam. Chúng ta có thể tìm được những cuốn sách từ đầu thế kỷ 19, những bức tranh trước năm 1800, hay những bộ đèn treo, những bộ bàn ghế , tủ kệ, những bộ ly tách, chén dĩa ...cả trăm năm tuổi mà vẫn sáng loáng và không kém phần sang trọng. 
Ta cũng có thể bắt găp những món đồ có xuất xứ Châu Á. Chúng thường khá "non" tuổi, như các món đồ sành sứ xanh trắng hay ngũ sắc từ Trung Hoa Dân Quốc trở về sau, hay những món đồ sứ Nhật in rập vẫn thường thấy ở VN. 
Cũng như nhiều nơi buôn bán đồ cổ khác trên thế giới, ở đây cũng không thiếu loại đồ giả cổ: từ sành sứ, pháp lam Trung Hoa đến tượng Phật Thái Lan, tượng gỗ Indonesia, đồ nữ trang của thổ dân ... Có lẽ người Pháp có "máu" sưu tầm, có khi là những vật nhỏ nhặt như những cái móc khoá, tem, bưu thiếp...thậm chí người ta thích đến chợ đồ cổ để mua...rượu! Những chai rượu vang (Vin-rượu chát) của những vùng nổi tiếng nhất như Bordeaux, Côtes du Rhône, Médoc...được cất đưới hầm rượu từ mấy năm trước, nay đem lên bán. Mỗi thứ một ít...vài chục chai sản xuất năm 1994, 1995...cho đến tận những năm 1982 hay lâu hơn nữa. Dĩ nhiên giá cả còn phụ thuộc vào loại rươu, nhãn hiệu và mức độ "cổ" của chai rượu.
Người Pháp sành về ăn uống, chuộng cái đẹp cổ kính, thích mỹ thuật, và hơn hết họ biết giữ gìn vốn văn hoá của mình.
 Cũng vì thế mà chính phủ không ngăn cấm việc buôn bán ngoài trời, ngược lại còn tổ chức, phân luồng giao thông để người dân đi chợ thuận lợi hơn. Nhiều nơi còn được miễn giảm thuế, có lưc lượng bảo vệ an ninh...Do đó chợ trời càng ngày càng phát triển, mở rộng cả về không gian lẫn thời gian họp chợ. Và đi chợ trời từ lâu đã trở thành một hoạt động không thể thiếu cùa người dân Pháp và là một nét văn hoá rất sinh động của Paris. 

t/g Hirondelle.

 

CHÈ CỦA NGƯỜI HOA

           chè hột gà trà tàu

Tôi sống vùng quê, thỉnh thỏang theo mẹ cho lên Sài Gòn thăm “A phò” (dì của mẹ). Bà dẫn tôi đi ăn đồ ngọt, một lọai chè của người Trung Hoa mà hiện nay hơn 40 năm tôi vẫn còn nhớ mãi .
Với danh mục đồ ngọt khá dài nào là sâm bổ lượng, chí mà phủ, nhãn nhục, hột gà trà, chè hạnh nhân, bạch quả, chè hạt sen, chè đậu đỏ, toàn là những lọai chè khá lạ khiến cho thằng bé quê mùa như tôi khó mà chọn lựa.
 Thôi thì nhìn vô thực đơn chọn thứ nào đắt tiền nhất chắc là ngon nhất tôi kêu một món, định bụng rằng khi nào đi Sài Gòn nữa thì sẽ tìm hiểu món tiếp theo. 
Và rồi mãi đến khi lên sống ở thành phố tôi mới có dịp lần lượt khám phá hết những thứ chè mà cả đời sống ở quê không khi nào thưởng thức được.
Sâm bổ lượng là món đồ ngọt mà người Hoa cũng như người Việt đều thích, đến nổi ở chợ nào cũng có, từ tiệm chè cho tới hàng gánh vì sâm bổ lượng đã bị Việt hóa mất rồi.
 Tuy nhiên giá cả cao thấp khác nhau, một phần do chỗ ngồi trang nhã, một phần do đối tượng phục vụ. 
Ăn ở nhà hàng thì giá vài chục ngàn đồng/chén , ăn ở tiệm có giá hơn mười ngàn, còn ăn ở gánh thì chỉ có 7.000đ tuy có thiếu vài vị trong món ăn này. 
Chè sâm bổ lượng nguyên thủy là ăn nóng, trong chè có các vị như hạt sen, phổ tai, bo bo, táo đỏ, nhãn nhục. Đây là các vị trong thang thuốc Bắc của người Hoa nấu với đường dùng để bối bổ khí huyết.
 Theo lương y Trịnh Hiền Hữu, nguyên chủ nhân của Thực dưỡng Chợ Lớn, thì chè sâm thực ra l thang thuốc có tên thanh bửu lượng, có lẽ vì thấy chè này ăn bổ nên người ta đọc trại ra là sâm bổ, chứ trong chè không có vị nào là sâm
. Trong đó có ý dĩ và phổ tai là vị thuốc làm cho thanh nhiệt, lợi tiểu; táo giúp bổ tỳ , còn nhãn nhục thì bổ thận. 
Người Hoa, khi bệnh nhẹ thường lấy các món ăn để bồi bổ, khi có sức khỏe cơ thể tự đề kháng để trị bệnh. Do đó không lấy chi làm lạ khi hạt sen, táo tàu, nhãn nhục, sanh địa thường có bán cả hai nơi, tiệm chạp phô và tiệm thuốc Bắc. 

          
Ăn sâm bổ lượng người ta thích vị ngọt của táo Tàu, nhãn nhục, thích phổ tai giòn giòn, thích vị béo của hạt sen, bo bo mà không ngán và mùi thơm của nhãn , của táo làm cho chén chè sâm thơm lừng mà không lọai chè nào có được .
 Tiếc là những người bán chè sâm bây giờ ngại giữ nóng nên thường bán bỏ đá vào, không biết vị thuốc trong chè có giảm tác dụng không, chứ hương vị không bằng như chén chè khi nóng !

Một lọai chè có lâu đời và nay cũng bị Việt hóa đó là “chí mà phủ” tức chè mè đen. Xem phim “Nợ đời” trên TV , được phóng tác theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Hồ Biểu Chánh, thỉnh thỏang người làm phim cho một người bán chè gánh thùng chè đi trên phố để miêu tả chi tiết cảnh vật thời bấy giờ- đầu thế kỷ 20.
 Một ông khách trú, gánh thùng chè vừa đi vừa rao “chí mà phủ”. Chè mè đen ngon, béo lại rẻ , ăn vào nhuận trường , trị được táo bón.
 Muốn nấu chè mè đen , người ta phải rang mè cho chín , sau đó xay nhuyễn và trộn ít bột mì tinh cho chè đặc lại, cho thêm một ít đường vừa ăn .
 Hiện nay, “chí mà phủ” có bán ở chợ Thiếc, chợ Dakao, đầu đường Nguyễn Văn Đậu, nhưng rẻ và ngon là chè mè đen của anh Hồng ở ngã ba Trần Huy Liệu


 Anh Hồng là người Việt, bán chè ở đây đã hơn 7 năm, xe chè của anh có đề chữ Hoa do cô em dâu người Hoa viết cho.
 Cô này cũng là người sản xuất ra 2 nồi chè mà anh bán hàng đêm.Một nồi chí mà phủ và một nồi là lục tào xá, tức chè đậu xanh nấu với phổ tai. Chè đậu xanh của người Việt thường thêm bột khoai, bột bán , nước cốt dừa , còn lục tào xá thì đơn giản hơn . 
Lục tào xá có 2 vị đậu xanh và phổ tai đều có tính hàn , ăn vào hạ nhiệt, chống khô cổ, khát nước. Từ “lục tàu xá” bây giờ lui vào dĩ vãng vì lọai chè này người Việt có nấu và nhiều nơi có bán.
 Cùng lọai với lục tào xá là “hùng tào xá” tức chè đậu đỏ.
 Chè đậu đỏ của người Hoa nấu phải bỏ một ít trần bì , tức vỏ quýt.
 Trần bì có 2 lọai: lọai tự chế tức lấy vỏ quýt phơi khô xắt mỏng; lọai thứ nhì là vỏ cam Quảng Đông mua ở tiệm thuốc Bắc gọi là “cỏn sành phì”lọai này có mùi thơm hơn .
 Cả 2 lọai này đều xắt thành sợi bỏ vào chè cho thơm. 
Tuy nhiên không nên lạm dụng vì bỏ trần bì nhiều , chè sẽ đắng. Đậu đỏ có tác dụng bổ máu, trần bì giúp cho dễ tiêu hóa đưa chất bổ trong chè đi vào máu được mau chóng.
Chè bạch quả là thức ăn mà các xì thẩu thích nhất, bởi theo Đông y nó có đặc tính chống lỏang tinh .
 Các dược sĩ Tây dược đã trích dược chất trong bạch quả bào chế ra lọai thuốc cho lão nam dùng với giá rất đắt.
 Chè bạch quả thường nấu với ý nhỉ, tàu hủ ky, người Hoa gọi là bạc cỏ –dí mảng-phù chúc sủi . Ăn chè để được cô tinh, lợi tiểu. Hạt bạch quả lớn hơn hạt sen, có vỏ cứng, nhân bên trong mềm và dẻo. Hạt này có bán ở các quầy chạp phơ các chợ Bến Thành, Bình Tây, An Đông, Bà Chiểu , Tận Định với giá hơi cao. 
Chè bạch quả có thể nấu với củ năng, nấu với bo bo đều được.
 Những lọai này đi kèm với bạch quả chẳng qua làm chất độn cho chén chè thêm xôm tụ , chứ nếu để độc vị bạch quả thì giá thành chắc chắn sẽ tăng cao khó bán.Trong các lọai chè Hoa, hầu hết đều cải biên , bỏ đá cho hợp với khẩu vị người tiêu dùng . 
Tuy nhiên cũng có lọai chè phải ăn nóng mới ngon đó là chè hạnh nhân. An chè hạnh nhân thường là người Hoa cố cựu hay người “sành ăn” chè Tàu mới thưởng thức nổi. 
Hạnh nhân có mùi vị lạ khó tả , có người nói là giống mùi rệp, có người cho là mùi rau thơm, nhưng ăn vào nên thuốc. Hạt hạnh nhân giống như hạt ô môi nhỏ , xù xì được nhập từ Trung Quốc. Hạnh nhân được xay nhuyễn nấu cùng với đậu phọng , có tác dụng hạ đàm, trị ho.
 Tuy nhiên do mùi vị lạ không thích hợp với người Việt nên chè hạnh nhân không được phổ biến rộng, ngay cả các quán chè Hoa trong thành phố chỉ còn tiệm chè Hà Ký , đường Châu Văn Liêm là còn bán.
Một tiệm chè Hoa mà không có bán hột gà trà là một thiếu sót lớn. Bởi hột gà trà không phải là món chè dễ bắt chước.
 Người ăn hột gà trà nhiều lần nhưng không biết người ta dùng lọai trà nào. Trà Bắc, trà Tàu để uống hàng ngày thì không phải , mùi vị thì hơi giống trà lip ton nhưng nấu bằng trà lipton thì nước chè không có được màu nâu đen nguyên gốc. 
Hột gà trà ngon phải ngấm màu nâu của trà, phải có hương thơm của trà mà người ăn một lần có thể nhớ mãi . Đến tiệm kêu hột gà trà, chủ quán đem ra chén chè có nước đen tuyền như chén thuốc Bắc, trong đó có hột gà đen nâu. Ngoài chiếc muổng sành, ăn hột gà trà còn có thêm chiếc nĩa nhỏ trơng rất lịch sự.
 Dùng hột gà trà nhiều lần thấy ngon, lại nghe nói ăn vào tiêu mở trong người nên đôi lúc muốn về quê trổ tài nấu hột gà cho gia đình ăn, nhưng hỏi chủ quán trà gì ?
 Không ai nói rõ. May sao, gặp người bạn cũ là lương y cho biết đó là trà Bửu Lũy của người Quảng Đông (TQ) nấu với tang ký sinh.
 Hai vị này mua ở các tiệm thuốc phố Hải Thượng Lãn Ông đều có.
Ăn đồ ngọt phải ăn nóng mới là đúng điệu, nhưng giữ cho nồi chè nóng lâu rất khó vì nó tốn nhiều than, để trên bếp lửa lâu nồi chè sắc xuống , ngọt gắt khó dùng.
 Anh Hà Chí Thành, chủ tiệm Hà Ký chỉ tôi bí quyết, nồi chè phải để trong nồi nước sôi trên bếp, dù lửa có lớn nồi chè lúc nào cũng nóng đều nhưng không cạn vì trong nồi không quá 100 độ C.

Lương Minh

Thơ Nhất Tuấn

  Cánh Lá Phong


Em viết gì trên cánh lá phong
Tình ta như biển rông mênh mông
Bao nhiêu năm với ân tình đó
Hứa với nhau rồi, có nhớ không

Dù chẳng bao giờ muốn nhớ đâu
Một năm có đủ bốn mùa đau
Ðêm đêm hỏi mãi người trong mộng
Ðến kiếp nào ta mới của nhau

Có giữa tình xa nốt nhạc buồn
Mỗi phần đời rất đỗi cô đơn
Cuối thu lá chết sao nhiều quá
Lạc giữa cuồng phong khắp ngả đường

Trên lá khô em viết những gì
Tình theo đời lá cũng bay đi
Ðàn khuya thổn thức nhiều đêm vắng
Thương lệ rơi thầm phút biệt ly

Chỉ của nhau thôi: Truyện Chúng Mình
Như tia nắng sớm thật mong manh
Sưởi hồn anh một trời băng gía
Thơ, nhạc và em, em của anh.
   Nhất Tuấn 


Cuộc sống cũng giống như...đi xe đạp

  Bạn phải luôn biết giữ thăng bằng, luôn nhìn về phía trước... và nó sẽ đưa bạn đến nơi cần đến
 Cũng giống như đi xe đạp, điều quan trọng nhất là bạn luôn phải giữ được thăng bằng.
 Để giữ được thăng bằng, bạn phải giữ mình không ngừng vận động.
 Cũng giống như cuộc sống, nếu bạn mong trèo lên xe là đi được ngay, nếu bạn muốn ngay lúc vừa biết đi xe đã chinh phục một quãng đường xa, bạn sẽ bị ngã. Bắt đầu tập đi xe đạp, bạn hay bị ngã, nhưng đó là kinh nghiệm để bạn thực sự sẵn sàng cho mỗi chuyến đi.
 Cuộc sống cũng như vậy, là một chuỗi những bài học từ sai lầm.
 Bạn lớn lên trong cuộc sống từ những trải nghiệm thực tiễn đó. 
Nếu bạn cứ mãi nhìn xuống đất hay sau lưng thay vì nhìn về phía trước khi đi xe đạp, bạn sẽ đánh mất sự thăng bằng và ngã.
Có những khoảnh khắc bạn tự đắm chìm trong một thế giới huyễn hoặc của riêng bạn, đánh mất sự liên hệ với cuộc sống.
 Không nên chỉ nhìn vào mơ ước xa xăm của bạn hay nhìn về quá khứ, hãy dành phần lớn sự chú ý của mình vào hiện tại và những điều trước mắt, bạn mới thực sự vững vàng.
Khi con đường có những khúc quanh, bạn phải lái xe theo khúc quanh đó.
 Còn nếu bạn nhất định, kiên quyết giữ tay lái thẳng, bạn sẽ đi theo một con đường khác và đánh mất con đường định đi.
Cuộc sống đôi khi cũng bắt bạn đi theo những con đường cong và đôi khi xuất hiện những ngã rẽ bất ngờ, đòi hỏi bạn phải lựa chọn.
 Bạn có thể vẫn kiên định đi theo con đường của mình hoặc đi vào ngã rẽ. Và nếu bi kịch xảy ra, hãy chấp nhận những tổn thương và tin rằng số phận luôn có những kế hoạch lớn cho một kết thúc tốt đẹp ở cuối con đường.
Chiếc xe đạp sẽ giúp bạn đến nơi mà bạn cần đến đã được hoạch định bằng công sức bạn bỏ ra đạp nó. Nó chỉ là công cụ, không phải là kết quả.
Cũng giống như cuộc sống, sống thăng bằng rất quan trọng, nhưng đó không phải là mục đích của cuộc sống mà chỉ là cách để bạn đạt được mục đích của mình. Số phận không phải là bất biến, nếu bạn biết sử dụng chiếc xe đạp của mình thật tốt, bạn sẽ đi xa trong cuộc sống. 
Sau khi thành thạo và hiểu biết với việc điều khiển xe đạp, bạn có thể đi theo cách của riêng mình, thậm chí chỉ cần một bánh xe. Cũng giống như bạn thực sự hiểu cuộc sống, hiểu mình là ai, mình có thể
làm được gì, mình đang cần điều gì, bạn có thể làm nên những điều kì diệu theo cách của riêng bạn.
Đi xe đạp sẽ cho bạn thể chất khoẻ mạnh. Khi đạp xe lên đỉnh dốc, nó cần bạn nỗ lực hết mình. Nhưng khi bạn đã lên tới đỉnh và đi xuống, bạn sẽ thấy nhẹ nhàng, hứng khởi. 
Cơ thể dẻo dai giúp bạn chinh phục bất cứ đỉnh cao nào.Điều cuối cùng là bạn không thể đi xe đạp mãi mãi. Một vài người ước rằng họ có thể sống mãi mãi. Thậm chí một vài người tin vào điều đó.
Nhưng giống như đi xe đạp ra ngoài, rồi sẽ có lúc bạn cần nghỉ ngơi và trở về nhà. Quan trọng là bạn thích thú với việc đi xe và nó đưa bạn đến nơi bạn cần đến.
St

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Nổi loạn chính đáng


 Một trong những cuốn phim nổi tiếng nhất trong thập niên 1950 với sự xuất hiện của huyền thoại lãng tử James Dean có tựa đề là “Rebel without a Cause”
. Tôi xin tạm dịch thoát ý là “Chỉ Thích Nổi Loạn”.
Tôi rất thích cuốn phim này. Nhưng chưa bao giờ tôi thích ý tưởng xã hội mà cuốn phim này (và một phần nào đó trong văn chương tự do Tây phương) đề cao.
Vì đối với riêng tôi, tôi thấy nó… vô nghĩa quá, chẳng đâu ra đâu.
Tại sao phải phí sức, có nhiều trường hợp phải phí cả đời mình chỉ để đạt được một mục đích duy nhất, để chứng minh là mình khác với người ta? 
 Để làm gì? Khi việc làm đó chẳng giúp được gì cho ai cả?
Như những lần tôi về Việt Nam có dịp ngồi xe từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, Phan Thiết, lần nào tôi cũng phải lắc đầu không thể hiểu nổi mỗi khi thấy từng đoàn xe gắn máy thi nhau đua xe, lạng qua lạng lại ngay trước đầu xe hơi mình và cả xe tải như thể không biết sợ là gì.
Thanh niên trai trẻ mới lớn muốn cầm tay lái để thử sức giỡn mặt với tử thần đã đành.
Đằng này còn có những cô gái thiếu suy nghĩ đến độ chỉ biết hoàn toàn giao phó tính mạng của mình cho tài xế bằng cách ngồi sau ôm chặt lấy anh ta.
Để nếu chết chúng ta sẽ cùng nhau chết theo kiểu lãng mạn Ba tàu: “tuy ta không sinh cùng năm, cùng tháng nhưng được chết cùng giờ nên em rất mãn nguyện”!
Thật đúng là “ở chổ nhân gian không thể hiểu” 
(DuTuLe)
Nhưng ngược lại tôi rất ngưỡng mộ những ai dám sống với lý tưởng của mình, theo kiểu “rebel with a cause” bất kể đó là lý tưởng gì. Thích làm một họa sĩ nghèo.
..... Hay cả đời chỉ biết đi đó đây để thấy, học và đọc. Ngoài ra họ không thích bị ràng buộc về bất cứ mối liên hệ nào. Vợ, con, gia đình, việc làm, hay tiền bạc,
Nếu có dịp các bạn phải tìm đọc cho được quyển sách nổi tiếng Into the Wild của Jon Krakauer.
Đọc xong chắc chắn các bạn sẽ hiểu ngay tại sao chủ đề “Rebel with a Cause” luôn gợi lại trong chúng ta chút gì đó rất trong sáng, rất lãng mạn, xen lẫn chút ngạo mạn của một của một thời trai trẻ bất cần đời, bất chấp lễ giáo, hay sự nghiệp.
Một phần tôi thích nó có lẽ vì tôi nhận thấy tôi chưa bao giờ dám sống thật và hết mình với phương châm đó.
Như hôm tôi và anh bạn lái xe ngang qua nhà bà Aung San Suu Kyi ở Yangon, chúng tôi chỉ dám lái qua lái lại 2 lần sau đó là đi thẳng về khách sạn.
Chứ cả hai đứa đều không dám dừng xe bước xuống để hỏi thử xem mình có thể xin vào gặp bà được hay không.
Cái dở của tôi là ở chổ đó: biết rõ mình thích làm gì, biết rất rõ ai mình luôn quan tâm, ngưỡng mộ.
Dĩ nhiên đối với người dân bản xứ thì có thể những dịch vụ này được cho là khá mắc mỏ. Đi leo núi hai ngày bạn sẻ phải chi ra khoảng độ $ 40 cho mỗi người.
Nhưng đó là bao gồm cả 2 ngày ăn và một đêm nghỉ tạm ở nhà của một gia đình dân tộc thiểu số ngay trong bản của họ, cộng luôn tiền công cho hướng dẫn viên trong 2 ngày.
Bởi vậy nếu phải so sánh thì có thể nói đi du lịch kiểu tây ba lô ở Miến Điện là một trong những nơi rẻ nhất mà tôi đã có dịp đi qua.
  Một tô bún nóng bên lề đường chỉ tốn độ chừng 30 xu. Nhưng nếu phải nói đến thắng cảnh, đền đài, lịch sử hay bề dày của văn hóa Miến thì tôi e rằng không có gì đặc biệt.Nhất là sau khi trải qua suốt hai ngày lội núi, băng đèo tôi chỉ thấy những ngôi làng nghèo xơ xác, những đồi núi đã bị tàn phá mất gần hết vẻ đẹp thiên nhiên nay chỉ còn trơ trụi vài hàng cây thưa thớt.
Trong khi đó thì suốt cả 2 ngày mưa gió lại mịt mù, đường đất sình lầy trơn trợt nên cả nhóm ai cũng muốn đi cho mau để tới Inle Lake.
Không như hôm leo lên Machu Picchu ai cũng muốn nán lại thêm đôi ba phút để chụp hình cho đủ mọi góc cạnh.
Đổi lại tôi nhận thấy người Miến lại là một trong những dân tộc hiền hòa, hiếu khách và đặc biệt là thành thật nhất. Họ không đưa giá ra quá cao để du khách phải gồng mình trả giá (và chẳng biết đâu là thật, đâu là giả) như ở Việt Nam.
Họ cũng không ăn chận, bủn xỉn tính toán từng đồng xu một như một số người Hoa, người Ấn mà tôi đã xui xẻo gặp phải khi qua hai nước này. 
 Nhưng đặc biệt nhất là họ rất tận tâm, rất hiếu khách và có thể sẳn sàng mời mình vào uống vài chai miễn phí để có dịp tâm sự nhiều hơn về đất nước của họ.
Như đêm đầu tiên ở Kalaw tôi đã tình cờ được mời vào một quán bar nhỏ đầy những thanh và trung niên đang tụ họp hát hò và trò chuyện cùng với một nhóm du khách từ Anh và Pháp sang.
Họ đã ép mỗi người phải uống một ly rượu đế kiểu Miến cùng họ và vì tôi hoàn toàn không biết uống rượu nên đã bị phạt bằng cách phải làm trò.
 Thấy sẳn có cây đàn thùng guitar nằm bên cạnh, tôi bèn trổ tài vừa đàn vừa hát nhạc phẩm Hotel California.
Khỏi phải nói, chỉ cần nghe khúc nhạc dạo đầu là cả quán bar đều bừng lên để sau đó là tất cả đều cùng nhau cất cao giọng hát:
Nhưng chưa bao giờ tôi có đủ can đảm để “rebel”, để đi hết đoạn đường còn lại bất kể khó khăn.
Nếu như hôm đó tôi dám dừng xe bước xuống thì chưa chắc tôi đã có mặt ở Mỹ ngày hôm nay.
Nhưng đổi lại kinh nghiệm sống của tôi trong những tuần vừa qua chắc chắn là sẽ thú vị hơn nhiều.
Rất tiếc là tôi đã không có đủ can đảm và kết quả là ngày hôm sau tôi đã bay lên Kalaw để kịp leo núi sang Inle Lake là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất Miến Điện. Thật ra thì Kalaw hay Inle Lake cũng không có gì đặc biệt.
Đó chỉ là những thị trấn nhỏ nằm khá cao trên vùng Trung Bắc của Miến Điện nên khí hậu tương đối mát mẻ, đất rộng người thưa nên nó lại càng yên tĩnh hơn cả Yangon.
Phần lớn người dân ở đây làm nông hoặc mua bán ở chợ ngoại trừ một thành phần nhỏ có cuộc sống khá sung túc vì họ cung cấp những dịch vụ liên quan đến du lịch dã chiến như du ngoạn, leo núi nhiều ngày (multiple day trekking), mở quán bar, khách sạn, tiệm internet (mặc dù ngay cả google mail cũng bị chặn và riêng website của đài VOA thì coi như nằm trong diện bótay.com!).
On a dark desert highway
Cool wind in my hair
Warm smell of colitas
Rising up through the air…

Và trước khi nói lời tạm biệt cả quán đã cùng nhau một lần nữa nâng cao ly lên, la to: “To the Lady”.
Cái thú của những chuyến đi du lịch dã chiến là thế.
Của những giây phút thư giãn tuyệt vời giữa những thế hệ trẻ “rebel with a cause” cũng là thế.Đúng là tôi may mắn thật.

Trịnh Hội