Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Sự tích bồ nhí

Thượng đế mỉm cười, Người lấy một ít nhõng nhẽo, ... một nắm tươi cười, một muỗng lẳng lơ, một đôi mắt lúng liếng, một cái miệng nũng nịu, ... một khả năng xài tiền như nước... đặt lên một thân hình bốc lửa, một đôi chân dài, một làn da trắng mịn... 
Và gọi đó là Bồ nhí! Ngày xưa, sau khi mất sáu ngày để tạo nên đất trời vũ trụ, Thượng đế ngồi ngẫm nghĩ một chút và thấy trời đất đẹp đẽ thế này với bao nhiêu tinh túy của chất xám Ngài đã sáng tạo ra mà không có tạo vật nào hưởng thụ và làm sinh động cho nó thì phí quá bèn lấy một mẩu đất đẹp nhất thế gian nặn ra Adam - người đàn ông - con người đầu tiên trên quả đất (cho nên thi thoảng vẫn còn di chứng sót lại trong người Adam gây nên hội chứng “đầu đất”) rồi hà hơi cho Adam sự sống. Adam tung tăng vui mừng chạy nhảy trong vườn địa đàng, ăn trái cây, uống mật ngọt, ngắm ánh trăng lên, ngắm hoàng hôn xuống.
 Cô đơn buồn chán vì không có ai chơi cùng, không có việc gì làm vì mọi thứ ở vườn đều có sẵn (nên đa phần Adam sau này đều làm biếng và quen ăn sẵn là vì lí do này), Adam nghĩ ra cách tiêu sầu bằng cách lấy mật ong pha với trái cây, phơi ba lần nắng bốn lần trăng nhằm giết thì giờ rảnh rỗi, ai dè cái ấy lên men thành một loại thức uống khiến người ta điên đảo đầu óc, hoang mang tinh thần, thăng hoa cảm xúc - cái thức ấy gọi là rượu và tồn tại đến ngày nay, chỉ có điều biến tướng ra thành nhiều thể loại khác nhau từ đế Gò Đen đến vang đến vốt-ka đến cô-nhắc và thi thoảng bị lễnh loãng do một vài tay chế biến tồi lại gọi là bia.

      Uống cái thức ấy vào thì đầu óc thường mụ mẫm, hành động thiếu suy nghĩ nên Adam bấm gan bấm bụng chạy đến gặp Thượng đế và than thở về nỗi buồn về sự cô đơn của mình. 
Thượng đế vốn cũng chỉ có một mình, chẳng vợ con gì nên “luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” cảnh tình của Adam bèn hóa phép cho Adam ngủ say và lấy cái xương sườn bên hông của  Adam và nặn ra một tạo vật khác đặt tên là Eva - người đàn bà đầu tiên trên quả đất.
 Adam tỉnh dậy thấy Eva thì bỏ chạy và cuống cuồng chui vào bụi rậm để trốn vì cứ tưởng là quái vật đột biến hay sư tử tiến hóa mà thành, Eva thấy Adam thì cười ngất ngưỡng vì cứ tưởng đấy là một con tinh tinh bị bệnh rụng lông, Eva bẻ ngay một cành cây và nhử nhử trước mặt Adam mong kéo được con tinh tinh lạ ấy ra khỏi bụi rậm và nhốt vào chuồng nuôi làm kiểng, vốn dĩ Eva là phụ nữ mà phụ nữ thấy con gì lạ là cứ muốn nuôi thử hay chí ít ra cũng sờ thử - đó là lí do mà ngày nay phụ nữ chỉ thích nhốt đàn ông trong nhà không cho đi rượu chè cùng bè bạn và bắt đàn ông làm đủ thứ việc nhà để thử thách khả năng chịu đựng của đàn ông.
 Nhưng Eva nhử mãi mà Adam vẫn trốn, Eva liền ngồi xuống và bưng mặt khóc (ngày nay cũng thế, phụ nữ hễ đụng chuyện là bưng mặt khóc).
 Thượng đế thấy thế mủi lòng (Thượng đế còn mủi lòng hỏi sao đàn ông không mủi lòng?
 Trong các câu chuyện cổ tích sau này Thượng đế hay cải trang thành Ông Bụt) bèn hóa phép, một tia sét đánh trúng giữa Adam và Eva (chính là tiếng sét ái tình)), nỗi sợ hãi biến mất, cả hai chợt thấy nhau hấp dẫn lạ kì, họ bèn bỏ mặc Thượng đế đứng chơ vơ giữa vườn địa đàng, nắm tay nhau chạy về phía chân trời đầy hạnh phúc (trong các phim truyền hình Việt Nam tuyệt đối tuân theo ý tưởng đột xuất và đã trở thành kinh điển này, đoạn kết một chuyện tình có hậu bao giờ cũng là hai nhân vật nắm tay nhau chạy về phía cuối trời, chỉ có khác với Adam và Eva là có mặc quần áo - vì không mặc  e la` Sở văn hóa thông tin không duyệt và không cho phát hình, mà phim quay ra  không phát thì toi). 
 Thượng đế đứng nhìn theo hai người, khôn xiết mừng vui vì hình ảnh lãng mạn điếng hồn: hai người trần trụi chạy trong cảnh hoang sơ dưới vầng dương đỏ ối..
Lẽ ra mọi chuyện đã kết thúc có hậu nhưng Thượng đế nhớ ra rằng hai người trong mừng vui đã không làm một chuyện rất đáng nên làm đó là nói lời cám ơn với Thượng Đế, người đã có công sinh ra đàn ông lại sinh ra đàn bà - Thượng đế buồn bã chép miệng: Đồ dại gái!
 Vì câu nói vô tình này mà định hình luôn một đặc tính cố hữu của đàn ông mà không sao sửa được cũng chẳng có thuốc chủng ngừa dù y học đã tiến tới vượt bậc và con người đã lò mò lên tận sao Hỏa: dại gái! 
Hơn thế nữa, vừa thấy Eva, Adam đã nháo nhào chạy theo mà quên trời quên đất cũng lại tạo một tập tính tệ hại cho đàn ông hậu duệ sau này: cứ thấy gái là chạy theo, bỏ mẹ bỏ cha bỏ công sinh thành!
 Adam Eva có nhau thì vui lắm! họ cùng nhau làm mọi thứ xưa kia Adam chỉ làm một mình. 
Cùng tung tăng vui mừng chạy nhảy trong vườn địa đàng, cùng ăn trái cây, cùng uống mật ngọt, cùng ngắm ánh trăng lên, ngắm hoàng hôn xuống... Adam có Eva cạnh bên thì mừng lắm! 
Có bao nhiêu điều hay thì bung ra cả - chả trách đàn ông thời nay cũng thế - có cái gì vợ cũng biết, có cố giấu cũng không xong, kể cả quỹ đen hay phòng nhì em út... Cái dại nhất của Adam là tiết lộ bí quyết pha rượu cho Eva. Lúc đầu thì cũng chưa có chuyện gì xảy ra, chỉ là họ cùng nhau thưởng thức, cùng nhau thăng hoa, cùng nhau tận hưởng mọi thứ trong men rượu...
 Cuộc sống trôi qua êm đềm nếu như không có một ngày nọ - hình như là kỉ niệm ba năm ngày gặp nhau - hay cặp nhau - tiền thân của kỉ niệm ngày cưới bây giờ, cả hai cùng uống rượu, ngắm trăng lên và nhấm nháp “mồi”, đưa cay bằng một quả táo Adam hái được trên một cây táo mọc ở phía đông vườn địa đàng.
 Vì quả táo này là hàng hiếm - do Thượng Đế thửa riêng cho mình và cấm hai người ăn - kiểu như dân thường thì uống đế Gò Đen còn đại gia thì uống Chivas vậy.
 Lâu lâu mới có mồi ngon, hai người uống quá chén. Mà thói thường hễ say tất thiếu kiềm chế, mà hễ thiếu kiềm chế tất sinh ra làm bậy, mà hai người ngày xưa chưa có tham ô, hối lộ...
 Cái bậy nhất họ có thể làm là... làm tình. Cái này về sau ứng thành câu nói: Khôn ba năm dại một giờ.
 Hậu quả của chuyện này thật khủng khiếp - đến ngày nay vẫn thế - cứ sau một lần dại thì hậu quả luôn dẫn đến bệnh viện phụ sản giải quyết hậu quả.
 Ngày xưa chưa có bệnh viện phụ sản để “giải quyết” nên cuối cùng Thượng Đế cũng biết chuyện.
 Người giận lắm! Giận vì chuyện trai gái hư hỏng của hai người thì ít vì Người vốn biết chuyện “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”.
 Cái giận nhất của Người là hai kẻ kia dám trộm táo hàng hiệu của người mà ăn nhậu vô tổ chức, lại say sưa nhậu nhẹt gậy hậu quả nghiêm trọng - do ngày xưa chưa có các biện pháp kế hoạch hóa gia đình - nên Eva đã dính bầu. Giống hệt như các bậc sinh thành ngày nay, Thượng Đế sợ xấu hổ, dù lúc ấy trên trời chỉ có mình Ngài, chẳng có ai rảnh hơi đàm tiếu thị phi như miệng lưỡi độc địa của thế gian ngày nay, lại sợ để hai người trên trời không khéo cây táo “độc” - độc đáo - ý nói không đụng hàng - chứ không phải độc địa - bị vặt trộm sạch bách,
 Thượng Đế bèn đuổi hai người ra khỏi Vườn địa đàng - các bậc cha mẹ sau này thì đuổi khỏi nhà, thi thoảng có vị “thăng hoa” sáng tạo thêm cái vụ: từ, không nhìn mặt con cho hoành tráng.
 .......Thượng đế mỉm cười, Người lấy một ít nhõng nhẽo, một ít dịu dàng, một nắm tươi cười, một muỗng lẳng lơ, một đôi mắt lúng liếng, một cái miệng nũng nịu, một cuộn băng chỉ toàn lời êm ái, một khả năng xài tiền như nước... đặt lên một thân hình bốc lửa, một đôi chân dài, một làn da trắng mịn... 
Và gọi đó là Bồ nhí! Nhưng sau khi tạo hình xong dù nhìn rất hấp dẫn nhưng Bồ Nhí chả biết làm gì ngoài đi lại và nói năng như người máy, Thượng Đế chợt nhớ ra là chưa truyền cho Bồ Nhí sự sống, thế là Ngài dịu dàng dùng miệng mình thổi một hơi dài truyền luồng sự sống thông qua đôi môi đang hé mở của Bồ Nhí.
 Đôi môi Bồ Nhí dần dỏ như một quả anh đào và có lẽ do luồng sinh khí Thượng đê trao cho nàng quá mạnh nên gắn chặt môi Thượng đế với môi nàng - tiền thân của cái vụ hôn môi câu mỏ ngày nay. 
Cả hai cứ thế ngất ngây cả tiếng đồng hồ, nếu thời đó có một cái bằng sáng chế ra nụ hôn đầu tiên và bằng kỉ lục Ghi-net về nụ hôn lâu nhất thì hai người này đoạt giải là cái chắc. 
Cố gắng lắm Adam mới lôi hai người ra khỏi nhau và giải thích cho Bồ Nhí nghe rằng Thượng đế tạo ra nàng là để dành cho đàn ông chứ không phải cho Thượng đế, và nhắc nhở với Thượng đế rằng Ngài là đấng tạo tác muôn loài, chỉ được cho chứ không được hưởng
 - Ngày nay thi thoảng một vài đàn ông cũng ảnh hưởng tính hào sảng này như “cha” của mình, thi thoảng cũng hào sảng cho tất cả cả mọi thứ mình có- chỉ có điều là cho gái chứ không bao giờ cho vợ.
Thượng đế rất lấy làm tủi hổ vì một phút yếu lòng đã lộ bản chất yếu mềm dễ dụ của mình, Người bèn trốn biệt thế gian quay về trời sau khi trao cho Adam và bồ nhí một số vũ khí: vài hạt lén lút, mấy muỗng nồng nàn, vài chai đắm say cùng một tô ngu ngốc...
 Từ đó về sau người ta không bao giờ thấy Ngài xuất hiện nữa, chỉ lâu lâu Ngài khẳng định mình bằng cách sai Thiên Lôi đả búa đánh chết vài thằng phung phí bồ nhí phụ bạc vợ nhà mà thôi.
 Nhờ sức hấp dẫn của riêng mình cùng với những thứ vũ khí được Thượng đế ban tặng, Bồ Nhí song hành với cuộc sống của Adam Eva đến tỉ tỉ năm sau mà vợ của chồng ít khi nào hay biết, thi thoảng cũng có vài bà vợ “thong  manh” biết chuyện thì kì công lắm cũng như Hoạn Thư đánh ghen Thúy Kiều bằng cách nhục mạ bắt hầu đàn hầu rượu, 
hay như Vương Hoàng hậu bắt Võ Mị Nương lên chùa tu tập, dữ tợn hơn thì có bà hoàng hậu bắt cung phi của mình ném xuống giếng nhưng trường hợp đó cực kì ít, còn lại đa phần đều đánh ghen theo cách thông dụng là tạt axit - cái này hơi tàn độc, không nên theo, hay sởn tóc - là nguyên nhân để có những mái tóc đờ-mi-gạc-xông mạnh mẽ, hay xé quần áo - nhưng chiêu này bồ nhí không sợ, thậm chí còn khoái vì có cơ hội công khai lộ hàng... 

Còn mắng chửi hay tung tin lên mạng thì cũng chỉ gãi ngứa cho bồ nhí và chồng.
 Vậy là các bà vợ đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt bằng cách ơ thờ thừa nhận sự tồn tại của bồ nhí bằng cách giả bộ không biết, miễn đến chừng nào chồng còn chưa gom hết tài sản đưa cho ẻm, hoặc vẫn còn đóng thuế đầy đủ.
 Còn mấy Bồ Nhí cũng chẳng có nhu cầu “gom giang sang về một mối”  với anh đàn ông nào vì ít có cô nào chỉ có một anh, luôn là sơ cua dự phòng vài ba anh nữa...
        Còn đàn ông thì “chừng nào sóng gió chưa lên, thì anh còn vẫn tênh hênh cuộc đời”.
 Mối quan hệ này tồn tại đã hàng triệu năm qua mà vẫn bền vững và có tương lai phát triển dài theo sự tồn vong của loài người một cách êm đẹp. 
Chồng và vợ và bồ nhí...
 Thượng đế muôn năm! Có điều Thượng đế thi thoảng vén mây nhìn xuống hối hận vì đã sinh ra đàn ông mà lại không thể tạo ra Bồ Nhí cho mình vì vốn dĩ Ngài còn không có vợ thì lấy đâu ra có bồ nhí? 
Vậy là thi thoảng lại Ngài lại khóc, khóc ít thì mưa ngâu, khóc nhiều thì mưa bão... 
Có điều dạo gần đây mưa bão hơi nhiều, coi bộ Ngài hối hận lung lắm chăng?
 Chắc sắp tới có một giống mới ra đời!
                                        ~~~St net~~~
              @@  tks ,  ,woa ,dzui dzui  + clear stress !!!

Bún bò Huế

Nước ta có ba miền, mỗi miền có những món ăn khác nhau: Người Bắc ăn phở, người Nam ăn hủ tiếu, người Trung ăn bún bò. 
Nhìn chung như vậy. Dĩ nhiên vài nơi có những đặc sản khác như Quảng Nam có mì Quảng, Bình Định có bánh tráng, kể sao cho hết được.Mì làm bằng bột mì, bún làm bằng bột gạo. Bột mì có nhiều ca-lo-ri hơn bột gạo nên người sinh sống ở xứ lạnh thường ăn mì, người xứ nóng ăn gạo.
 Ở xứ ta thì ngược lại, ngoài Bắc, ngoài Trung, lạnh thì ăn phở, bún bò làm bằng bột gạo, miền Nam xứ nóng thì ăn hủ tiếu, mì làm bằng bột mì.
Có thể các món ăn nầy gốc từ bên Tàu di cư sang ta: Hoặc theo gót chân phiêu bạt của người Lạc Việt thuở xa xưa mà xuống lưu vực sông Nhị hoặc theo người Tàu chạy trốn nhà Thanh như Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài, Mạc Cửu mà "định cư" ở đồng bằng sông Cửu Long.
 Nghe chữ "hủ tiếu" thì rõ. "Hủ tiếu" đâu phải là tiếng của người Nam, nó là tiếng Tàu rặc được phiên theo âm Việt.Phở là tiếng Tàu hay tiếng ta? Nhưng phở quả là món ăn gốc tự bên Tàu.
 Người Pháp không phiên âm tiếng phở. Toàn Quyền Đông Pháp Pasquier gọi nước mắm là "nước mắm", không gọi nó là "xì dầu" hay dịch sang tiếng Pháp là một loại "xốt" lấy ra từ cá. trong khi đó thì người Pháp gọi phở là "Soupe de Chinoise".
 Sao lại là món "xúp" của Tàu. Họ từng thấy bên Tàu cũng có phở hay họ cũng bị ám thị rằng văn minh Việt Nam bắt nguồn từ trong văn minh Trung Hoa?Nói như thế thì bún bò không có nguồn gốc ngoại lai.
 Bún bò rất Việt Nam, rất "dân tộc". Bún là tiếng "nôm", không gốc gác họ hàng gì với tiếng Tàu cả.
 Bò là con bò, thịt bò, cũng là tiếng "nôm", không dính dáng vì tới "ngưu" là tiếng người Tàu gọi chung cả trâu lẫn bò. Miếng thịt bò nghênh ngang nằm trong tô bún thì gọi nó là thịt bò, không ai gọi nó là "ngưu nhục".
Nếu phở là "Soupe de Chinoise" thì tô phở chắc phải theo chân người Lạc Việt hay Tàu mà xuống đất Nam Việt, tức là vùng sông Nhị ngày nay.
 Nói thế cũng chưa chắc đúng. Biết đâu sứ Việt Nam khi qua Trung Hoa thấy tô phở ngon mà rước về, không có cờ quạt, lọng che như người xưa đón quan trạng vinh qui mà phải học thuộc lòng cách nấu rồi dấu lén trong trí, như kiểu ông Trạng Bùng dấu hột bắp nếp trong búi tóc để đem về nước Việt làm giống.
 Người Tàu thường tự khoe là nước của Thiên Triều, cao hơn các dân tộc chung quanh một bậc, nhưng không mấy khi hào phóng mà chia cho chư hầu một hột giống bắp, giống đậu, hoặc cách chế biến một món ăn, một tô phở, mặc dù người Tàu bóc lột chư hầu không thiếu phần triệt để.Về bún bò thì đâu có riêng gì Huế mới có. Quảng Trị cũng có bún bò vậy, còn Quảng Bình thì sao?
 Qua khỏi đèo Hải Vân, bún bò Đà Nẵng trở thành một món ăn "lưu lạc" nơi xứ lạ quê người.
 Nó nằm lu thu một mình, lạc lỏng giữa đám mì Quảng ồn ào như hải cảng Đà Nẵng nhưng lại chẳng cô đơn khi vào tới thủ phủ miền Nam.
Gốc gác tô bún bò là những cộng bún nằm trong tô thịt bò có nước xáo thịt bò mà không có thịt heo.
 Có lẽ miền Trung có những ngọn đồi thoai thoải thuận tiện cho việc nuôi bò, nhưng khi tô bún bò "định cư" ở Cố Đô thì nó có phần "thay da đổi thịt".
 Bên cạnh bún và thịt bò, người ta thêm vào đó một miếng giò heo. Đó là những cái chân của con heo đã cạo trắng, không còn chút lông, cái móng già đã được lấy đi. Miếng giò heo được chặt làm đôi, mỗi bên mỗi móng vì chân heo chỉ có hai móng hoặc là một khoanh tròn phần trên của chỗ móng heo, đầy lên những da và thịt. 
 Tại sao lại giò heo mà không là thịt heo, như tên gọi của nó "bún bò giò heo" (không ai gọi "bún bò thịt heo"). Lối ăn như thế là theo cách của người Tàu. Người Tàu cho rằng tinh chất của mỗi động vật tụ lại nơi chân của nó cho nên chân là phần bổ nhứt trong cơ thể con vật. Do đó, chúng ta thấy nhiều món ăn làm bằng chân động vật bổ và ngon đáo để.
 Đó là món chân vịt nổi tiếng của nhà hàng "Lạc Quần" Chợ Lớn nằm trên đại lộ Trần Hoàng Quân hay ăn món chân vịt của nhà hàng Quốc Tế Cần Thơ.
 Một vài tiệm ăn nhỏ ở Hà Tiên cũng có món chân vịt nầy, giá rẻ vì tại các cù lao trong vịnh Thái Lan nằm gần Hà Tiên người ta nuôi nhiều vịt bằng thứ cá vụn ngư phủ đánh bắt được nhưng ít khi chở lên bán ở Sài Gòn. Thi sĩ Nguyễn Hoàng Thu, tác giả tập thơ "Nét Gầy và Mây", một người bạn tù cải tạo của tôi, kể cho nghe hồi anh làm lễ thành hôn ở Phước Long, nơi nầy người ta nuôi dê khá nhiều nhưng ít ai biết làm thịt dê.
 Một người Tàu biết nghề tình nguyện giúp anh bạn, chỉ đòi tiền công bằng bốn cái chân dê

  Đã là thịt dê mà lại ăn bốn cái chân, không biết có ai kinh nghiệm để cho rằng nó hơn hay thua Viagra."Bò teo heo nở" là kinh nghiệm các bà đầu bếp. Vì vậy, trước khi bị miếng giò heo "bề thế" tấn công, các miếng thịt bò đã vội teo lại khi đôi đũa của người đầu bếp lật qua lật lại chúng trong nồi thịt xáo.
 Không như thịt heo chặt từng miếng to, thịt bò được thái mỏng, không quá mỏng để khi nó teo lại người ta không thấy nó ở đâu cả, ướp gia vị tiêu hành nước mắm trước khi cho vào nồi xáo.
 Khi thịt bò vừa chín, người ta cho nó vào nồi nước bún bò.Để nước xáo được trong, không như nồi nước lèo phở, nấu lần thứ nhứt sôi, nổi bọt thì đổ nước đi nấu lại; người nấu bún bỏ vào nồi một trái thơm gọt vỏ hoặc vài muỗng me khô, một bó sả. 

Tuy nhiên, người ta thường nấu với thơm hơn me chua vì chất thơm làm cho giò heo mau mềm mà vẫn dòn.Ngoài miếng giò heo, tô bún bò Huế cầu kỳ hơn với những miếng chuối bắp xắt lát, với những cọng rau quế trắng mà người ta cho rằng thơm hơn rau quế đỏ. Chất chát của chuối bắp sẽ đẩy những mỡ, gia vị ra khỏi lưỡi, để cho cái lưỡi được "sạch", miếng thịt heo ăn tiếp sau sẽ ngon hơn. Các thứ thịt trong tô bún bò giò heo không có mùi tanh, kể cả miếng giò heo to, nó có mùi béo ngậy, kích thích giác quan người ăn.
 Cho nên có người ăn bún bò, không như khi ăn phở, không cần ăn thêm rau quế. Rau chỉ làm cho miếng ăn thơm hơn.Người nấu bún bò không mua loại heo nuôi theo kiểu công nghiệp. 
Giò heo họ nấu phải là thứ giò heo cỏ, lông đen, nhỏ con do người ta nuôi theo lối thủ công. Giò heo không lớn quá, mỡ không nhiều quá, da không dày quá mà lại dòn, nước ngọt.Bún bò giò heo là món ăn của người Huế, nói riêng. Người Huế, lại thích ăn ớt. 
Người nam ít thích ăn ớt, thấy tô bún ngon nhưng chỉ cứ ngồi nhìn, không dám đụng đũa.
 Trên mặt nồi bún là một lớp váng đỏ au do ớt bột tao với mỡ. Mặc dù người bán bún đã lấy cái vá chao trên mặt nồi cho váng ớt tan ra hai bên trước khi múc nước cho vào tô bún, bề mặt tô bún vẫn là một lớp ớt đỏ lóng lánh mỡ. 
Thế mà trên bàn, đôi khi còn có thêm một dĩa ớt sừng trâu hay ớt mọi (ớt hiểm) hay một chén tương ớt. Vừa ăn, thực khách vừa xuýt xoa vì cay, có khi toát mồ hôi, rớm nước mắt, trong cái bấc lạnh của vùng Châu Á Gió Mùa từ Biển Đông thổi về mới đúng với cái thú ăn bún bò trong mùa lạnh.
Khi chiến tranh lan tràn rộng hơn, nhiều người miền Nam ra phục vụ ngoài Trung, người ta bỗng thấy xuất hiện những tô bún bò có giá sống. 
Thế là không xong rồi. Khó có thể có sự hòa hợp hòa giải "loạn xà ngầu" giữa tô phở Hà Nội, tô bún bò Huế và tô hủ tiếu miền Nam.
 Thật đấy, người khó tính chẳng bao giờ chịu một tô bún bò giá sống nửa Nam nửa Trung.Ăn bún bò Huế, không ít khi tôi nhớ tới bún bò Quảng Trị, quê tôi. Bún bò Quảng Trị "chơn chất" hơn.
 Bún bò là bún bò, không có cái đuôi "giò heo" theo sau. Khi tôi mới lớn, ăn bún bò, thấy nồi nước xáo của mấy chị, mấy mự (mợ) mấy dì bà con xa gần bên ngoại tôi là nồi đất, chưa "hiện đại" như sau nầy để có nồi nhôm. Bún làm bằng gạo trắng, nhiều khi gạo đỏ, và cọng bún lại nhỏ hơn cọng bún của tô bún bò Huế.
 Thuở ấy, cả thị xã chỉ có mấy tiệm ăn, người ta bán phở: phở nước, phở xào, chớ không bán bún bò bao giờ. Muốn ăn bún bò, phải ăn bún gánh của những người đi bán dạo. Sau nầy, khi tôi xa xứ rồi mới nghe nói tới những quán bún bò giò heo bên bờ sông Thạch Hãn, gần Ty Thông Tin, hay bún bò giò heo trên đường Phan Thanh Giản như trong hồi ký của cô giáo Bùi Ngọc Lan. Tôi là dân Quảng Trị chính cống mà không được cái may mắn như cô giáo trẻ từ Huế ra dạy ở trường Trung Học Nguyễn Hoàng. 
Với Huế, người ta có thể nhắc tới Vĩ Dạ qua hình ảnh "thuyền chở trăng", "hoa bắp lay", hay "lá trúc che ngang mặt chữ điền" như trong thơ Hàn Mặc Tử. Quả thật tôi không về Vĩ dạ để xem trăng ở vườn nhà ai mà lại chui vào chợ Vĩ Dạ ăn bún bò viên. Bún bò viên không có giò heo, mà chỉ có những viên thịt bò to gần bằng ngón chân cái, ăn một lần nhớ một đời. 
 Nó không phải là thứ thịt bò xay như ở Sài Gòn hay bên xứ Mỹ nầy. Người ta xắt nhỏ miếng thịt bò rồi bỏ vào cái cối đá quết cho thật nhuyễn như làm nem chả.
 Quết xong, miếng thịt dính chặt vào nhau như miếng cao su non. Thịt xay thường rã rời, không dính chặt với nhau như miếng thịt quết.
 Sau đó, người bán nêm gia vị sao cho vừa miệng người ăn. Làm việc nầy, người chủ không cần dấu nghề như các tiệm nem chả của người Bắc ở S2i Gòn, nhưng nêm sao cho được ngon là điều rất khó cho ai muốn học nghề.
 Tôi biết ăn bún bò viên Vĩ Dạ, chỉ là một sự tình cờ. Thưởng thức món ngon ấy chưa được bao lâu thì xảy ra biến cố Tết Mậu Thân, tôi đành nhập ngũ, để lại phía sau những tô bún bò viên từ bấy đến nay chưa từng được trời cho hưởng lại cái lộc ăn ấy một lần nữa.Tôi vốn dĩ có tính bướng. 
Đi ăn giỗ nhà bà con, tôi không ưa những món chay giả mặn. Ăn chay mà cũng có món nem chả sườn, giò và cả bún bò giò heo.
 Món ăn chay không ngon hay tôi có định kiến với những món ăn giả mặn đó. Mấy năm làm "giáo tại gia" nhà một ông chú họ, mỗi rằm và mồng một cả nhà ăn chay, nếu nhằm ngày nghỉ không bận đi học, thế nào tôi cũng ra quán bún bò Mai Lợi phía ngoài cửa Đông Ba, bên cạnh vườn hoa, cách nhà tôi không xa để ăn một tô bún bò mà thường gọi đùa là "trả thù đời". Đời bắt tôi tu nhưng chẳng bao giờ tôi chịu tu.
 Với bao nhiêu tô bún bò trong đời, khi xuống địa ngục chắc tôi sẽ ở tầng chót và kiếp sau hóa thành "Trư Bát Giới". Biết đâu đó là điều vui!Bún bò giò heo Huế cũng mang "tính giai cấp" như trong cộng đồng nó hiện hữu. Cà phê Lạc Sơn là nơi lui tới của những người có tiền có bạc, công chức sĩ quan thì bún bò ở đây tô vừa to, cục giò cũng vừa to và làm nhẹ túi tiền của khách thưởng thức. Muốn ăn tô bún ngon thật sự thì lên quán cô Ba đầu dốc Nam Giao hay bún bò Mụ Rớt ở Ngự Viên.
 Bún bò Ngự Viên mới xuất hiện khoảng đầu thập niên 1960, khi Ngự Viên không còn nữa, đã biến thành một xóm lao động nhà cửa chen chúc.
 Nghĩ tội nghiệp cho các công chúa, cung phi ngày xưa, hồi ấy làm gì có bún bò Ngự Viên cho vua "ngự" hay các nàng dùng để "thời".Cảnh "tang thương" ấy ngày xưa công chúa cung phi gánh chịu đã đánh, người đời nay đâu tránh khỏi.
 Tết Mậu Thân, ông Rớt bị VC bắn ngay trước cửa nhà ông... Tới tiệm Mụ Rớt ăn tô bún, chưa chắc người ta quên đi hình ảnh ông Rớt bị bắn chết nằm chèo queo trên mặt đường, mất đi cái vui thuở binh đao chưa về tận xóm Ngự Viên nầy.Vốn có cuộc sống "kín cổng cao tường", các bà các cô gái Huế không mấy khi ra ngồi tiệm ăn bún bò.
 Cắn miếng thịt heo to, ớt đỏ dính quanh mồm, vừa ăn vừa hít hà hay xì xụp giữa chỗ đông người là việc không mấy khi họ chịu làm.
 Thế nhưng không phải họ không được ăn những tô bún ngon. Họ ở nhà ăn bún gánh, là bún của những người gánh bán dạo từng nhà. Đừng tưởng rằng những tô bún gánh nầy ít ngon. 
Thật ra, có gánh còn ngon hơn cả bún bò Mụ Rớt hay Cô Ba. Người sành ăn không ăn bún gánh sớm. Họ chờ hơi trưa, khi bụng đói hơn chút nữa, khi nồi nước xáo rặc bớt nước, cô lại.
 Đó là lúc "cao điểm" của một tô bún bò ngon.Mỗi người bán gánh có một khu vực riêng, coi như giang sơn của họ, một thứ luật bất thành văn, người ở giang sơn bên cạnh ít khi xâm lăng vào. 
Do đó, trong những người bán bún gánh với nhau, không có chuyện cải cọ tranh giành khách ăn. "Cộng đồng bún bò gánh" đó có trật tự kỷ cương hơn bất cứ một cộng đồng người Việt nào.
Buổi sáng, khi trời còn mờ mờ, người ta thấy các chị, các dì gánh những gành bún bò nối đuôi nhau từ phía bên kia cầu An Cựu, cống Phát Lái như một toán lính hành quân đi dọc theo một trục lộ. Lò than còn cháy đỏ xua bớt chút lạnh còn vướng vất của buổi sớm mai, có khi bếp lửa còn khói tuông ra, loãng dần trong không khí. "Đạo quân bún gánh" đó qua khỏi cầu An Cựu tỏa ra nhiều nhánh, rẽ tay trái lên An Lăng, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế, hay rẽ xuống Vĩ Dạ, chợ Cống. Đông nhứt vẫn là những gánh bún vượt qua cầu Trường Tiền xuống phố Đông Ba, Ô Hồ, qua Gia Hội hay lên Thượng Tứ, tiến chiếm các mục tiêu trong nội thành, vào tận Lương Y, Tây Lộc. 
Nếu tò mò hỏi, chúng ta biết hầu hết những người bán bún gánh đều ở xóm An Cựu. Đó là nghề truyền thống của một cái xóm nhỏ, nổi tiếng như loại "nem An Cựu" nếu so với "nem Thủ Đức" thì Thủ Đức thua xa.Vào Sài Gòn, nhớ Huế, đố ai khỏi nhớ tô bún bò Huế.
 Người ta có thể ghé quán Hạnh Lợi trên đường Hiền Vương, gần ngã tư Pasteur để "làm một chầu cho đã nhớ". Hạnh Lợi có nhiều món ăn Huế: nem chả, bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc bọc tôm thịt, nhưng tôi chỉ thích bún bò. 
Nó là Huế bậc nhứt trong những món ăn Huế. Chả ở đây vẫn ngon hơn chả Quốc Hương trên đường Trần Hưng Đạo. Chả Huế làm bằng thịt quết, không thêm bột nên miếng chả vị ngọt hơn.
 Người Sài Gòn cái gì cũng vội: Ăn vội, đi vội, nói vội theo cuộc sống văn minh. Họ không có thì giờ ngồi nhâm nhi miếng chả để phân biệt cái nào là thịt, cái nào là bột lạt lẽo trong miếng chả đang ăn.Nếu chỉ muốn ăn có mỗi một món bún bò, người ta đến "Bún Bò Quốc Việt" trên đường Lê Văn Duyệt, chỗ gần cuối đường. Quán nầy trông có vẻ bình dân, ghế bàn xộc xệch, dành cho lính tráng gốc Huế hơn là khách văn nhân; nhưng tô bún bò Quốc Việt không kém tô bún bò Huế chính cống.
 Năm 1970, tôi có cô bạn nữ quân nhân người Nam, tên là Nguyễn T. Thanh Nh. làm việc cùng cơ quan, một người hễ khi tôi nói gì về Huế thì vễnh tai, tròn xoe hai mắt như cố ghi vào trí vào lòng những gì tôi nói. Một lần tôi đãi cô ăn bún bò ở đây. Nghe ăn bún bò, cô ta thích lắm, muốn "ăn cho biết". 
Nhưng khi tô bún được bưng ra thì cô ta chỉ ngồi nhìn, không dám cầm đũa. Hỏi, cô ta trả lời: "Ớt thế làm sao ăn, sợ quá!"Sau năm 1972, vị sợ chiến tranh, người Huế khăn gói vào sống Sài Gòn nhiều hơn trong hành trình Nam Tiến của họ có mang hình ảnh tô bún bò Huế. 
   Do đó, sau năm 1972, Sài Gòn bỗng rộ lên nhiều tiệm bún bò. Sài Gòn đã bị Huế xâm lăng cũng như mấy trăm năm trước, tô hủ tiếu gốc Tàu chế ngự thị trường ăn uống Sài Gòn.
 Bún bò cũng không sống nổi với Cọng Sản, chúng cũng vượt biên và nhờ lòng ưu ái của nền đa văn hóa Mỹ, tô bún bò giò heo Huế nay đã định cư ở Cali và vài nơi khác, chưa biết bao giờ nhập quốc tịch Mỹ.
Tôi ước ao tô bún bò sẽ không bị Mỹ hóa: Thêm một miếng Hamburger chẳng hạn.
 Dù sao, tô bún bò khi chưa bị Mỹ hóa thì vẫn còn bản sắc dân tộc Việt, bưng tô bún bò, nuốt những sợi bún phải chăng là nuốt vào lòng "sợi nhớ sợi thương"
                                  HOÀNG LONG HẢI
                          @@  tks ,tks ,BBH ,ngon qua' !!
                                                           

BẮC GIANG

Chiều, trời lại mưa lất phất. Chúng tôi lần ra bến xe cạnh chợ Đồng Xuân để đi Bắc Giang. Người tài xế cho biết đây là chuyến chót. Xe đã nổ máy nhưng chưa chạy, có ý chờ thêm khách. 
Thực ra xe cũng đã đầy, trong xe lổn chổn đủ thứ hàng hóa. Tôi chỉ mong xe rời bến cho đỡ ngột ngạt, vì ngồi trong cùng như nhốt trong rọ. Lên xe ai cũng dành ngồi ngoài cho thoáng. Tiếng anh lơ xe giục :- Nhanh lên cô ơi.Một người phụ nữ bước lên. Xe lăn bánh.- Vào trong.- Vào nữa.Ai cũng nghiêng mình cho người khách len vào. Cuối cùng là tôi, tôi ép mình sát vào góc thành xe để có một chỗ cho người mới lên.
 Dù biết mình sẽ khó thở hơn nhưng chẳng lẽ tôi cũng đẩy người ta vào nữa sao.
 Vừa ngồi xuống, cô khách gật đầu chào nhẹ như có ý cảm ơn tôi. Cô còn trẻ, khoảng 30 là cùng.
 Hẵng còn làn da con gái. Chiếc mũi thon cao, đôi mắt không lớn nhưng rất sáng, làn mi dài tự nhiên, những sợi tóc không kẹp, rơi xuống bên má, một khuôn mặt nhẹ nhàng khả ái.
 Tôi nghe rõ hơi thở của nàng, có lẽ do anh phụ xe thúc hối. Qua cầu Long Biên, gió từ sông Hồng thổi lên, không khí trong xe thoáng hơn.
 Tôi cố nghiêng đầu ngắm cảnh bên ngoài. Tự nhiên thấy có một hơi ấm êm đềm đâu đó.
 Lúc xe chạy qua một cánh đồng lúa xanh, tôi quay sang hỏi người con gái (bây giờ thì rõ người khách chưa phải đàn bà, vì ngón áp út tay trái vẫn còn bỏ ngõ):

- Cô cũng đi Bắc giang ?

- Thưa vâng.

- Đây là cánh đồng Bắc Ninh phải không cô nhỉ ?

- Thưa đúng đấy ạ.

- Chà, thế là tôi đang đi qua quảng đường ngày xưa của Ngọc trong Hồn Bướm Mơ Tiên đây.

- Ông bảo gì?

- À, tôi nói "con đường ngày xưa" ..

- Ngày xưa sao ạ?

- "Ngày xưa em đi", tôi nói đùa, xin lỗi cô.
Nghe lối lịch sự của tôi, cô gái mĩm cười. 

 Tôi lại thầm luận đoán: “Cô không biết Hồn Bướm Mơ Tiên thì chưa chắc đã được ba mươi”. Cánh đồng lúa xanh mướt, chạy tít tận chân trời.
 Dọc bờ ruộng đôi em bé đang cho trâu bò gặm cỏ, vài con cò trắng nhởn nhơ. Cảnh buồn hiu, không vui như cảnh đồng lúa chín trong truyện của Khái Hưng:

Hỡi anh đi đường cái quan,

Dừng chân đứng lại cho em than vài nhời.
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Đúng là gái Bắc Ninh không phải vừa. Bổng cô khách hỏi tôi :- Thưa ông đi Bắc Giang chơi, hay có việc ?- Sao cô biết tôi đi chơi ?- Vì ông không phải người vùng này.Tôi cười và hỏi lại :- Cô chắc như thế ?- Vâng, ông đã không biết mình đang đi qua địa phận Bắc Ninh. Ông lại mãi mê ngắm cảnh thì hẳn là từ phương xa đến.

Tôi thầm nghĩ, cô bé này thông minh thật. Và cảm thấy vui vui khi có người gợi chuyện.
- Cảnh miền Bắc đẹp như trong truyện cô nhỉ.
- Vâng, lên vùng cao như Lạng Sơn, Sapa, cảnh còn đẹp hơn nhiều.Xe chồm qua một ổ gà, cô gái chúi người vào tôi. Câu chuyện trở nên tự nhiên thân mật làm cho lộ trình ngắn lại. - Thưa ông đi một mình ?
- Vâng, tôi có người quen ở phố Ngô Quyền.- Em cũng ở gần đấy .Thế là câu chuyện có đà ngon trớn như xe bon bon trên đường. Tôi nhớ mang máng cô bạn kể nhiều chuyện về cuộc sống của mình, giọng càng lúc càng thân mật, làm tôi xúc động thật sự. 
Thường những gì xa lạ mới mẻ cũng làm cho ta dễ động lòng. Kết thúc đoạn đường tâm tình cô nhìn tôi:- Ông thấy sao khi đến những nơi xa lạ như xứ Bắc Giang hiu quạnh này?
- Như cô biết, tôi thích đi, mỗi chuyến đi đều cho tôi những điều mới mẻ.- Tôi muốn biết ý nghĩ của ông, cụ thể về con người.Tôi cảm thấy mình như người học trò trả bài cô giáo.
 Vừa thích thú vừa phải đắn đo. Trả lời khách sáo, có nghĩa là nói tốt chung chung thì thường quá. Làm sao gói ghém được ẩn tình của câu hỏi mới "đạt". Khó chứ chẳng chơi. Mãi một lúc tôi nói như gợi thêm tình:- Người ta thường ca tụng "giang sơn gấm vóc", đất nước là "rừng vàng biển bạc", nhưng tất cả đều thông qua con người. 
Tôi muốn nói con người đẹp trước hết thảy. Khi một người thấy được giá trị những thứ chung quanh mình, người đó phải là tuyệt vời.Người con gái hơi cúi đầu xuống và như có tiếng cười khe khẽ. Tôi chờ kết quả câu trả lời của mình. - Phải là những người như ông chứ hạng như em chẳng qua chỉ biết qua sách vở mà thôi...
- Ấy, chính nhờ vốn liếng sách vở mà con người dễ gần gũi nhau, dễ nhận ra nhau cho dù sinh ra ở những nơi cách xa nghìn trùng.
- Đôi lúc em mơ hồ nghĩ thế, nhưng chắc gì người khác đã nghĩ như mình.Trời tối dần, cảnh vật xám đen. Trong xe không còn nom rõ mặt nhau.
 Xe không vào bến mà đỗ lại bên đường, cạnh một cột đèn ánh sáng vàng vọt. Xuống xe, tôi tần ngần đứng cạnh người con gái một lúc, cả hai muốn nói điều gì đó mà không biết nói gì. Đợi khi hành khách đi xong, tôi bổng đưa tay ra từ giã:
- Thôi, tạm biệt Tâm nơi đây ...Người con gái không kịp phản ứng đã đưa tay cho tôi bắt. 
Tôi giữ bàn tay nhỏ nhắn và ấm thật lâu.- Thế nào tôi cũng có dịp trở lại thăm Tâm...Tôi cố tìm vài lời để thời gian được nối dài thêm. Nhưng "khôn ba năm dại một giờ", lúc cần thật cần thì chữ nghĩa chạy đâu hết. Tôi buông tay nàng từ từ...Nàng yên lặng quay đi.
 Tôi chạy lại chỗ người bạn đang đứng chờ, nói mấy câu xin lỗi. Từ chỗ xuống xe về nhà trọ đi bộ chừng mươi phút. Trời đã sụp tối, đèn đường lù mù, đường vắng tanh y như ở một phố huyện chứ không phải thị xã. 
Thành phố Bắc Giang không lớn, chỉ có một phố chính là phố Ngô Quyền. Bắc Giang là nơi có nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống.
 Có gốm da chu làng Vẽ. Làng Vẽ còn gọi làng Thành, nằm ngay phía đông thành phố. 
Chuyện kể thời quân Minh bên Tàu tràn sang Cao Bằng Lạng Sơn, quân ta chống không nổi, từ biên giới rút về Bắc Giang và trong một ngày đêm đã dựng một bức trường thành cao lớn bằng hình vẽ. Quân Tàu tràn xuống thấy vậy tưởng gặp đại quân Việt Nam nên sợ rút lui.Ngày hôm sau nhờ bạn chỉ đường tôi đến thăm "lò gốm" ở xóm dưới không xa mấy.
 Con đường vào nhà lò đặc nét quê miền Bắc, lối đi lát gạch, nhà tường cổng xưa. Gọi là lò, thực ra, có mấy anh em trong nhà, xúm xít làm với nhau.
 Họ thật khéo tay, mỗi người một khâu, công việc thu gọn trong một túp lều nhỏ. Lò nung ở ngoài vườn. Đa số sản phẩm là tượng Phật và những chiếc bình nhiều dáng đẹp và lạ mắt. Anh Thơ ( thợ cả) cho biết khó nhất là khâu làm da chu. Đúng màu và màu không đổi sau khi nung, màu phải đều mới hay. Hỏi thăm “đầu ra đầu vào”, anh cho biết tạm sống qua ngày.
 Thỉnh thoảng có người trong Nam ra đặt, còn thì bán lẻ không được mấy.Bắc Giang còn có món bánh đa (bánh tráng) đặc biệt nổi tiếng : Bánh đa làng Kế. Mỗi buổi sáng các bà bày bánh nướng ngay bên lề đường vào thành phố để bán.
 Chiếc bánh to và dày, nướng rất đều lửa. Bánh phơi giữa bụi bặm nắng nôi, thế mà đến chiều bán sạch. Tôi lấy làm lạ về tên bánh nên hỏi người bạn:- Sao lại gọi Bánh Đa Làng Kế hả ông?- Thời trước làng Kế có một ông đỗ Trạng Nguyên, mà chỉ mỗi bánh đa làng ấy là ngon có tiếng.- Tôi nghĩ bánh đa làm cũng đơn giản thì đâu mà chẳng giống nhau ?- Ấy thế mà người ta vẫn truyền nhau, thi nhau mua, khách từ Hà Nội lên chơi, mua từng xâu đem về làm quà. Mấy ngày ở Bắc Giang, tôi gặp nhiều bạn trẻ “làm văn nghệ”, họ có cái nhìn rất thoáng, dù lúc ấy (1992) còn nhiều ngăn cách với thế giới bên ngoài. 
Tôi gặp Hoàng Kỳ, con trai của thi sỹ Hoàng Cầm tại nhà bác Minh Ngọc. Bác cho tôi nghe một đoạn của đài BBC phỏng vấn Hoàng Cầm về nhận xét bài thơ Lá Diêu Bông của Phạm Duy. Hoàng Cầm bảo mối tình có thật chứ không có ẩn ý như nhạc si họ Phạm suy diễn.Trọ nhà Bác Ngọc tôi được thưởng thức món vó bò chấm tương, ngon, ăn no mà không ngán.
 Miền Nam nổi tiếng nhậu lại không có món này.Bắc Giang có một ngôi chùa khá lâu đời : Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa tọa lạc tại xã Đức Lai nằm về Tây Nam thị xã Bắc Giang.
 Đây là ngôi chùa Tổ chính gốc, nhiêu nơi cũng có chùa Vĩnh Nghiêm nhưng đấy chỉ là tên gọi thôi. Hôm chúng tôi đến vãn cảnh, chùa vắng tanh, xin vào xem người giữ chùa không cho, bảo Đại Đức Trụ Trì về quê chưa lên. 
Đang hỏi chuyện lanh quanh thì có tiếng xe Honda chạy vào. Hai thanh niên mặc áo nâu sòng đèo nhau, người ngồi sau ôm con gà trống khá lớn. 
Vừa xuống xe họ đã to tiếng quát tháo bà già đang bằm rau heo. Chúng tôi được ông già giới thiệu với Đại Đức Trụ Trì (người mới chạy xe vao), Đại Đức còn trẻ, giọng ái nam ái nữ. Tôi chào hỏi sơ rồi xin phép vào thăm chùa. Chùa có từ 300 năm, một kiến trúc cổ. Mái chùa bốn góc cong vút lên theo dạng mũi hài.
 Trong chùa, không nhang đèn, ánh sáng bên ngoài hắt vào mờ mờ, không khí lạnh lẽo hoang phế. Chánh điện thờ Tổ Trúc Lâm, và các ngài Huyền Quang, Pháp Loa.
 Bên phải chánh điện, một dãy nhà ngang làm nơi ở và tiếp khách.
 Trước nhà ngang che thêm mái phụ, kê một chiếc phản lớn. Ngoài cổng chùa có năm Bảo Tháp của năm vị Tổ đời trước. Chùa nhìn ra một cánh đồng, có vị thế rất phong quang.Nhưng chùa đã không được giữ gìn đúng mức, còn dùng mái chùa làm giàn trồng bầu bí, xem nhẹ giá trị lịch sử của một di tích.
Tôi dạo quanh một vòng trong khung cảnh vắng vẻ, ngoại trừ tiếng bằm rau heo đều đều của u già thay cho tiếng mõ. Tôi bồi hồi chợt nhớ đến sư cụ chùa Long Giáng, nhớ chú tiểu Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên. Lịch sử luôn luôn nói đến bốn ngàn năm văn hiến, song văn hiến đã không được gìn giữ còn để hao mòn tàn tạ dần.

                                  Trần Công Nhung

                         @@ tks t/g TCN. !! 

Biển Xanh Quy Nhơn

 Quy Nhơn có cảng Quy Nhơn và cảng Thị Nại. Cảng của Quy Nhơn là một cảng quan trọng của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên. 
Cảng Quy Nhơn là cảng loại 1 và đang trên đà phát triển mạnh mẽ với vị trí luôn nằm trong Top 3 lượng hàng hóa lưu thông qua Cảng, chỉ đứng sau Cảng Sài Gòn và Cảng Hải Phòng.
Đường sắtga Quy Nhơn nằm ngay trung tâm thành phố, là một nhánh của tuyến đường sắt Bắc-Nam hướng từ ga Diêu Trì. Ga không phải là ga lớn, chủ yếu vận chuyển hành khách và hàng hóa lên đến ga chính là ga Diêu Trì. 
Tuy nhiên, hiện nay ngành đường sắt đã đưa  đôi tàu địa phương SQN1/2 Golden Train chạy từ ga Quy Nhơn đến ga Sài Gòn và ngược lại hàng ngày giúp người dân thuận tiện hơn trong việc đi tàu hay du lich ...
                                         Bãi tắm Hoàng Hậu ( Bãi Trứng )

                                theodulichmien trung.

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

BÌNH THUẬN, HIỀN HÒA .. ( t .theo )

 Lại có lắm thằng trở thành sĩ quan “lính nước”, có khi trục quay bị kẹt, quan lính hì hục kéo sợi dây xích mỏ neo to tổ bố đến phỏng cả tay.
 Có khi trời làm phong ba, con tàu chao đảo chồm lên hụp xuống, vì chưa quen sóng nước, chàng sĩ quan chạy không kịp nên bám cửa vói đầu ra ngoài để “hét ra cơm mửa ra nước” cả boong tàu. 
Phong ba bão tố không thể chìu theo, người “sĩ quan” đệ đơn xin phục vụ ở căn cứ, cấp trên cũng thông cảm cho về trên các giang đỉnh, hoặc thuyền trưởng để bớt bị sóng gió và không còn được hát bài Hoa Biển nữa. 
Tiếc đến thế thì thôi!
 Còn phần tôi cứ lầm lũi với nghề cạo giấy, mãi về sau mới tập tành làm thợ săn... tin và viết lách để cho đời bớt cô đơn!Bây giờ tôi với bạn thả bộ dọc theo đường Trưng Trắc, hai bên bờ sông là những dãy nhà sàn, ghe thuyền đậu san sát kéo dài tới bến cá Cồn Chà với hàng ngàn ghe thuyền đủ loại. 
Bên kia là bến Đông Hải, hàng ngàn ghe thuyền cũng chen chúc nhau. Đây là cửa biển, lối ra đại dương để hành nghề “hạ bạc thâu vàng”.Cũng như các vùng biển Việt Nam, ngư phủ Phan Thiết đi đánh bắt cá bằng nhiều dụng cụ và phương tiện khác nhau.
 Nghề bắt cá đi nổi thì có các loại lưới cước từ thân hai để bắt cá trích, cá mòi, cá lẹp.
 Hoặc lưới thân tư, thân năm để bắt cá cam, cá lầm, cá ngừ, cá thu... Ngư phủ chạy ra biển khơi, tùy theo con nước để bủa những dàng lưới dài từ một cây số đến bốn năm cây số. 
Neo ghe và chờ con nước đứng, ngư phủ kéo lưới lên, cá đóng đầy đặc, họ chỉ xủ lưới cho cá rơi xuống khoang chứ không thể nào gỡ kịp, khi về đến bến giăng lưới lên bãi cát và gỡ hết cá ra.
 Có khi làm không xuể, ngư phủ cho dân hôi cá lại gỡ lấy phần. Bạn có biết không mỗi chuyến đi như vậy thu hoạch cả tấn cá, đó là chỉ một ghe thôi mà bạn chịu khó nhân lên cho hàng trăm chiếc ghe đánh cá về như thế. Ngư phủ Phan Thiết còn đánh bắt cá bằng lưới chà, mỗi năm vào mùa có thể chở về hàng vạn tấn cá nục, cá lầm, cá bạc má, cá kình, cá chim trắng, cá chim đen, cá sòng, cá cam... 

Vào mỗi mùa đánh bắt cá, ghe thuyền ra vào tấp nập, trưa, chiều và cả đêm tối nữa. Những ngọn đèn măng xông, đèn điện phát ra từ bình ắc qui, hoặc kẹt quá thì đốt đuốc để đong cá.
 À, mà bạn có nghe bên này la “cò”, bên kia la “cò” và đôi khi có tiếng cãi vã nhau nữa không?
 Cãi lộn mà vui lắm bạn ơi! 
Bởi vì mỗi khi ghe đánh cá về, các ông bà đầu nậu xuống ghe, trao cho ông bà chủ ghe, có khi trao cho ông “chèo dọc”, còn gọi là tài công, một bó đũa hoặc bó thẻ. Không phải là “thẻ bài” đâu nhé, mà là thẻ làm bằng tre, giống như thẻ xin xăm vậy đó. 
Mỗi một lần đong cá vào thùng, đổ xuống xuồng cho đầu nậu thì hô lên một tiếng “cò” nghe đến điếc lỗ tai.
 Có nghĩa là mỗi tiếng “cò” là một thùng cá đã đong và đổ xuống xuồng, ông bà chủ ghe trao lại cho đầu nậu một thẻ. Cứ như thế cho đến khi đong hết cá, kiểm lại số thẻ thì biết số lượng đã là mấy trăm thùng cá. 
Rồi cứ hàng tuần, đầu nậu tính thành tiền, rồi chở hàng bao bố tiền đến nhà chủ ghe, và ngư phủ đếm tiền thoải mái. Còn nghề dã cào có hai phương cách là dã cào đôi bởi hai chiếc ghe cùng kéo một lưới dã.
 Nghề này cũng nặng vốn vì mỗi chủ ghe ít nhất phải có hai dàng dã, xấp xỉ cả triệu đồng, rồi dây cáp cũng không rẻ dưới nửa triệu. 
Đến mùa, thường từ tháng tư đến gần cuối tháng mười một thì hai chiếc ghe đã có giao kết với nhau, cùng ra khơi, thả lưới dã, cùng kéo mỗi bên một dây cáp, cùng một tốc độ để cân bằng mặt dã.
 Sau vài ba tiếng đồng hồ, cũng có lúc trời thương, một tiếng đồng hồ thôi. Hai ghe cùng quay lại, trục dã lên và xúc cá lên ghe.
 Lặt lựa xong thường cũng được vài chục giỏ cần xé cá, tôm, mực... mỗi giỏ có thể cân nặng hàng trăm kí lô. Nghề dã cào đôi thường đánh bắt được cá lù đù, cá phèn, cá đổng, cá mối và được rất nhiều loại hải sản ngon tuyệt như ốc giác, ốc gai, sò, điệp, tôm hùm, tôm vỗ, mực tuộc, mực nang, tôm thẻ bạc.
 Có khi đánh bắt xong chạy về đến bến, các loại hải sản này vẫn còn ngọ ngoạy, thả vào nồi nước sôi, vớt ra thì chỉ còn thấy lưu linh chờn vờn trước mắt. Nào hãy khà một tiếng rồi gắp miếng điệp, hay miếng ốc thái mỏng, hoặc con tôm nướng bỏ vào miệng để biết... sống cả một cuộc đời ngon ngọt.
Có nhiều phương cách đánh bắt cá của ngư phủ Bình Thuận nữa bạn ơi! Diễn tả cho hết thì rất là miệt mài, đành xin lỗi bạn.
 Tôi chỉ xin vắn tắt, ngư phủ ở đây còn nghề dã tôm, dã ruốc, lặn bắt sò huyết, sò lông với những số lượng tôi không thể cân được... và cuối cùng là nghề kéo lưới rùng, dàng lưới dài cả vài nghìn mét, được giăng ra bao vây một vùng biển, cách xa bờ có khi dăm cây số. 
 Mỗi đầu dây vài chục người, phăn kéo. Có khi cả nửa buổi mới kéo xong một vát rùng. 
Ôi chao, cá ve, cá cơm, cá mai trắng hếu, mỗi vát rùng gom được hàng tấn cá. Các loại này đặc biệt dùng để làm mắm nêm, nó ngon tuyệt cú mèo.
 Bạn thích ăn thịt ba rọi luộc cuốn bánh tráng rau sống không nhỉ? 
Hãy làm một chén mắm nêm trộn tỏi, ớt đâm nhuyễn. Bảo đảm bạn sẽ quên cả chất “cô-lét-tê-rô” để mà cuốn rau sống, trộn rau thơm, mấy miếng thịt ba rọi trong miếng bánh tráng và... chấm lia lịa!
 Có lẽ bạn khát nước lắm rồi phải không? Tôi đưa bạn đến một khu làm nước mắm điển hình của Phan Thiết dọc theo đường Huyền Trân Công Chúa.
 Vừa đi hết khúc đường chợ sắt, mà chợ này không có bán sắt, chỉ vì trước đây là những đoạn đường rầy xe lửa rồi thành cái tên bị thừa nhận đấy thôi. Những dãy nhà lều, hay còn gọi là nhà thùng rộng lớn san sát nhau. Trong đó có hàng trăm cái thùng được ghép bằng cây ván, rất kín không thể rỉ nước ra được. 
Chiều cao mỗi thùng khoảng bốn năm thước, đường kính có thể sáu bảy thước. Với một kích thước như thế, mỗi thùng có thể chứa đến mấy tấn cá.
 Mỗi một mùa cá, các nhà thùng vô cùng tấp nập, bận rộn vì người gánh cá, gánh muối ra vào nườm nượp.
 Các nhân công đổ cá vào thùng, trộn muối và chờ thời gian để rồi biến những thùng muối cá này thành nước mắm đủ loại. Từ nước mắm nhĩ, loại tuyệt nhất, rồi đến nước nhì, nước ba.
 Thì tiền nào của nấy đó mà! Cứ đến từng chu kỳ, hàng đoàn xe cam nhông nối đuôi nhau để nhân công nhà thùng chất những tỉn, những thùng sắt tây đủ các loại nước mắm để cung ứng cho Sài Gòn, các tỉnh Miền Đông và Cao Nguyên Trung Phần. Đây cũng chỉ là một đơn vị làm nước mắm mà thôi.

 Nếu kể ra hết các “nhà thùng” tại Phan Thiết, Thanh Hải, Hải Long, Phan Rí Cửa... thì chắc chắn tôi và bạn nếu có giỏi bơi lội thì cũng bị chết chìm vì khối lượng nước mắm này. Tại sao ở đâu đâu cũng đều khen nước mắm Phan Thiết ngon nổi tiếng.
 Mà theo tôi hiểu vì là lượng cá do ngư dân đánh bắt về còn tươi xanh, lại nhờ muối sản xuất từ nước mắm thiên nhiên, không pha chế hóa chất, và dĩ nhiên cũng nhờ bàn tay của những người biết muối cá và chế biến thành mắm nêm hay các loại nước mắm khác nữa.
 Đặc biệt thêm nữa, nối sau các nhà lều, nhà thùng chế biến nước mắm thì cũng tại đây của Phan Thiết còn có một nhà máy sản xuất cá đóng hộp tương đối tối tân của thời điểm thập niên 60. 
Như đã trình bày ở trên, khối lượng cá đủ loại do ngư phủ đánh bắt về hằng hà vô số. 
Cá được vận tải cung ứng cho Sài Gòn, Miền Đông, Miền Cao Nguyên Trung Phần vẫn không hết, hàng trăm ngàn tấn cá để biến chế thành nước mắm vẫn không xuể và do đó nhà máy đóng cá hộp này cũng phải hoạt động quanh năm, và phần nhiều là xuất cảng đi các nước.
 Để khối lượng cá ngoài biển khơi còn chờ ngư phủ Bình Thuận chở về, để nuôi người dân no ấm và giàu có.Đối diện với quán nước sinh tố này là ấp Vinh Phú, một nơi mà tôi đã được thân sinh ấp ủ, nuôi dưỡng dạy dỗ thành người từ ngày di cư vào Miền Nam Việt Nam năm 1955. Ấp Vinh Phú được thành lập từ thời đó trên một bãi cát ven biển.
 Vinh Phú có một ngôi Thánh Đường uy nghi, đồ sộ với ngọn tháp chuông cao đến năm mươi mét, và... tôi có quá nhiều kỷ niệm ở đó.
 Đến một lúc nào, tôi sẽ kể bạn nghe, dài lắm... cả những chuyện “ma”. Những câu chuyện truyền tụng “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận”, bạn đã nghe hết chưa? 
Thôi để một đêm tối trời có mưa dầm gió hú, tôi sẽ kể cho bạn nghe.
 Trước mắt chúng ta đó là bãi biển Thương Chánh, nó không được đẹp lắm. Nhưng là một nơi mà dân thành phố không thể thiếu, nhất là vào mỗi mùa hè.
 Thương Chánh được che kín bởi những cây bàng cành lá vươn giăng như một ông khổng lồ mà ánh nắng mặt trời có khi phải ganh tuông. 
Phía đồi cát là “Đài Khí Tượng” với những trụ “ăng ten” cao ngất nghểu. Đi thêm ra nữa, bãi cát vàng trải rộng và từ cồn đá mọc dọc theo triền nước trông nó hấp dẫn làm sao! Người người chen chân từ cụm đá này nhảy lên ghềnh đá khác. 
Sóng biển mùa êm phủ lướt giòng nước mặn mát lên đôi bàn chân, cũng có lúc sóng giỡn đùa hất tạt lên ướt mặt và tiếng cười khúc khích vọng lên.
 Trên làn nước êm êm mát rượi là cả một khối người nô đùa bơi lội hoặc nằm phơi mình trên bãi cát. Những bụi phi lau, có kẻ gọi là cây dương cũng đủ che ánh nắng cho những anh chị thích tự tình và... chong mắt ra biển cả để nhìn chiếc thuyền trôi nổi theo từng đợt sóng.Bây giờ tôi và bạn đang ở Tuy Phong, phố quận cuối cùng của tỉnh Bình Thuận. 

Ở đây quán chợ sinh hoạt cũng rất tấp nập và bến thuyền ở đây cũng ồn ào vào những buổi ngư dân đánh bắt cá trở về. Chúng ta ghé dãy sạp bên hông chợ, ăn một tô “bánh căng” để thấy nó khác hẳn mì vịt tìm, phở bắc... đây là món ăn rất bình dân, làm bằng bột gạo, nhưng nó khoái khẩu vô cùng.
 Ta cứ thủng thỉnh để cô hàng bánh đổ bột vào những cái khuôn đúc bằng đất sét nung.
 Trong cái “nồi đất” ấy là lửa than đang đỏ rực.




 Chờ bánh hơi sém vàng một chút, cô hàng quán sẽ xoáy ra bỏ vào tô, bạn cứ chan nước kho cá, hoặc nước mắm tỏi ớt. Ăn miếng bánh trong miệng với vị cay, mằn mặn, chua chua cứ tưởng rằng ăn một món gì cao lương mỹ vị. Đây là một lối biến chế đặc sản của Tuy Phong đó bạn. Miếng bánh mới đúc sém vàng nóng lắm phải không? Nhìn kìa, cô hàng quán đang đỏ hừng đôi má, có lẽ bạn ăn vội vì quá bắt miệng phải không? 
Nấu nướng cũng rất là văn hóa đó.
 Biết gia giảm, biết hòa trộn, biết làm cho người ăn ham mê là cả một nghệ thuật.Long Hương trước mặt chúng ta đó, mấy trăm nóc gia ở đây chỉ sống duy nhất bằng nghề đánh bắt cá, bằng ghe lưới chài, bằng thúng giăng lưới cước và kéo giàng rùng. 
Bà con ở đây rất hiền lành, chất phác và rất là hiếu khách. Dù bạn là người xa lạ họ gặp và chào hỏi vồn vã, nhất là gặp lúc họ đang ăn cá hấp, gỏi tôm hùm, cá ngừ nướng lửa than và những lít rượu đế, rượu nếp than, cũng có cả bia con cọp nữa.
  Nếu rảnh rang thì cũng nên nhập cuộc cho vui. Ngoài xa kia là những dãy đồi cát nối chân nhau dài thăm thẳm. Nơi đây đã được nhiều nhiếp ảnh gia đưa những bức hình nghệ thuật vào nền văn học Việt Nam mà chúng ta đã từng thấy những bức hình, mà chúng tôi không thuộc hết các chủ đề của các nhiếp ảnh gia, nhưng đại để như dấu chân trên cát, quang gánh qua đồi, trượt dốc, gợn sóng trên đồi cát...
 Chạy dài theo bờ biển, những đồi cát vun cao, có đồi cát trắng xóa, có đồi cát màu trắng ngà. Đứng trên những đồi cát này chúng ta mới thấy con người nhỏ tí như những hạt cát nhưng đam mê như ở một sa mạc bao la, vào mùa hè gió biển phây phây thổi.
 Đứng trên những đồi cát này ta cảm thấy tâm hồn như chơi vơi, trắng xóa, không tì vết bụi trần. Đôi khi nó vắng lặng, im lìm như ở một chốn linh thiêng của trời đất.
 Ở cuối đỉnh đồi cát bên kia, những đứa trẻ chạy theo các chàng thanh niên đang nới những sợi dây cho con diều vút cao và tiếng sáo vi vu cả một vùng trời xanh.
 Tuột xuống khỏi những đồi cát cao ấy, chúng ta chạy theo những chàng thanh niên và bầy trẻ dễ thương đến những dãy ghềnh đá bao vòng một vùng rộng lớn, nhảy nhào xuống vùng nước biển trong veo, chúng ta có thể thấy những con tôm hùm đang cong đuôi bám vào tảng đá, có lẽ chúng đang say mê gặm rong rêu hoặc những con hàu. 
Chúng ta cũng có thể thấy từng bầy cá hanh, cá mú đá đang lao vút rượt đuổi theo con mồi.
 Mùa hè ở đây rất lý tưởng cho những ai thích thú lội trên mặt nước để nhìn những cảnh trí ấy vì nước xanh trong như cả một khối thủy tinh.
Những đồi cát ở đây cũng bị truồi phủ lấp các chòm cây nhưng vẫn không làm cho dãy đồi mòn thấp vì vào mùa gió chướng từ hướng bắc bồi cát lên cho đỉnh đồi.
 Mỗi mùa gió bấc ấy, chúng ta đi trên những dãy đồi này phải vén tà áo che mặt để cát khỏi bay vào “cửa sổ linh hồn” vì gió mạnh thổi cát từ bãi biển vung lên.
 Nếu bạn mặc quần áo cụt sẽ cảm thấy hơi ran rát như bị muỗi vắt chích.
 Mà không phải đâu, đó là những hạt cát tí ti bị gió thổi mạnh bắn vào tay chân bạn đấy thì thử hỏi làm sao việc của thiên nhiên tạo hóa lại có thể để cho những đồi cát ấy bình địa được!
Tôi nhớ thương trìu mến Bình Thuận quá đi thôi! Con người thì hiền lành chất phác mà đất đai khí hậu như những tấm lụa là êm ái ru người.
 Hai mươi mấy năm rồi, vừa phải trốn nhui trốn nhủi những kẻ say máu chiến thắng, vừa bị giam hãm chốn lao tù, lại dài thêm những tháng năm lưu vong nơi xứ tình người khô cằn như dãy sa mạc Nevada.
 Bây giờ về lại chốn đó ư? 
....Tôi khao khát một ngày nào bọn sơn tặc, hà bá tiêu tan, tôi sẽ về quê tôi, Bình Thuận, Việt Nam để ăn những con cá, ốc, tôm, mực tươi xanh.
 Tôi sẽ say mê những dĩa “lòng heo bánh hỏi Phú Long”.
 Tôi sẽ ra lầu Ông Hoàng để tìm lại mảnh đời thơ ấu và tôi sẽ chạy ra Long Hương, leo lên những đồi cát, lấy hai bàn tay bụm lại làm ống loa hú gào đồi núi, trời đất sông biển bao la hãy cùng tôi hát bài quê hương hòa bình tự do và no ấm!

                           HOÀNG ÂN PHẠM LƯU VONG

                                 @@ ,tks t/g ,hay qua'!!