Cách downtown Santa Barbara khoảng 50 mile, đây là remote town nhỏ nằm giữa
đồi núi chập trùng, đường đi vô phải chạy chậm nên sẽ mất khoảng 1h.
Trên đường đi vô gần tới Solvang có cái trại nuôi Ostrich (đà điểu) nên
ghé lại xem, mua vài món làm kỷ niệm (trứng or khô đà điểu), hoặc nếu
muốn bạn thể cưỡi thử đà điểu.
Có nhiều người chưa bao giờ nghe hoặc tưởng tượng được rằng ngay sát
cạnh nơi chúng ta ở lại có 1 quốc gia Đan Mạch thu nhỏ nhưng thiệt là cute
& unique như thế. Bạn nên tới Solvang càng sớm càng hay, dừng chân
ở những nhà hàng be bé tràn đầy màu sắc Đan Mạch, để được hoà mình thật
thú vị trong bữa điểm tâm kiểu Danish với những người dân Danish hiền
hoà & hiếu khách.
Khi vào tới giữa trung tâm thành phố Solvang , bạn
sẽ ngạc nhiên nhiều nhiều lắm khi thấy được nhiều thứ mà chưa bao giờ
thấy ở California hay bất kỳ nơi nào ở xứ Cờ hoa Solvang có cả ba thứ: Thiên thời, Địa lợi & Nhân hoà. Hầu hết người dân
sống ở đây đều là dân Danish chính gốc, họ rất hiền lành và từ tốn. Bạn
luôn luôn được tiếp đón bằng nụ cười nhân hậu khi bước vào bất cứ căn
phố nào ở Solvang.
Sau khi đậu xe xong, bạn nên bước qua phố chính và sẽ
thấy có cái xe trolley được kéo bằng cặp ngựa thật đẹp,du khách leo lên ngồi
chờ cho đủ chuyến, thế là lọc cọc chú xà ích sẽ guide bạn suốt chuyến
đi (khoảng 20”) vòng quanh thành phố Solvang (chỉ vài $/người thôi). Sau đó bạn mới bắt đầu chuyến phiêu lưu bằng chân tới những nơi
mà hồi nẫy bạn chưa kịp chụp kỷ niệm-quay fim cho mình -gia đình...
Ai thích chụp
hình thì nên đem memory card, battery & back-up camera cho dư dả vì
thành phố này sẽ thu hút những ai có sở thích chụp hình và thích cuộc sống bình lặng yên bình của châu Âu . Nét độc đáo cuốn của của Solvang. lôi cuốn của sẽ giúp khách du lịch phương xa chỉ một lần ghé qua sẽ nhớ
mãi :đó chính là thái độ niềm nở ,hiếu khách và nụ cưới tươi khi bạn ghé
qua bất cứ cửa tiệm nào ở Solavang ,đôi khi chỉ nhìn ngắm không hề có ý
định mua sắm ,nhưng người bán hàng ( chủ tiệm ) vẫn ân cần trò chuyện
cùng bạn .
Khi đi xe ngựa bạn sẽ được giới thiệu về những nhà hàng đặc biệt trong
vùng. Bạn nên thử 1 trong những tiệm này để thấy người Đan Mạch khẩu vị
họ ra sao . Hình như ở đây không có Chinese restaurant hay Vietnamese food
Nhớ mua món quà lưu niệm cho chuyến đi Solvang bạn nhé, vì hầu như người dân ở đây sống bằng nguồn du lịch.
Thôi đã hết 01 ngày rong ruổi phố xá Solvang , chúng ta chuẩn bị quay lại Santa Barbara ,
để nghỉ ngơi lấy sức cho chuyến quay trở về vào ngày mai hứa hẹn nhiều
bờ biển đẹp và shopping oulet Camarillo đang rộng cửa chờ đón nhé! St @@ dù đã từng ghé Solvang 2 lần :2002 -2010 nhưng Cly tự nhủ lòng sẽ rủ bạn bè ghé vài lần nữa , Solvang hẹn gặp lại nhaaaaaaa.!
2 MC Nam Lộc -Thùy Dương "Tôi
làm nhạc trước hết là để thỏa mãn nhu cầu tâm hồn, ngợi ca tình yêu, vỗ
về cuộc đời và an ủi thân phận của chính mình, vì thế mọi chuyện sau đó
đều được xem là những phần thưởng không mong đợi.”, Nam Lộc.“Tôi bước đi khi Saigon trong cơn hấp hối. Như một người tình phụ thở hơi cuối cùng. Tôi bước đi Tân Sơn Nhất lửa khói ngập trời, Khu thương xá cửa khép cuộc đời, Những con tầu ngơ ngác ra khơi..." Tôi
lắng nghe nhạc phẩm thứ 11 trong dĩa CD "Sài Gòn ơi, Vĩnh biệt" với nỗi
buồn vơi, với tâm trạng thổn thức xót xa khi ly hương, vì nó nhắc nhở
những kỷ niệm thương đau khi bước xuống tàu rời Sài Gòn thân yêu với bao
ngậm ngùi, bao quyến luyến, và bao tiếc thương vì hồn tôi hoang mang
vương vấn với Sài Gòn. Bản nhạc "Xin đời một nụ cười" đang vang lên
trong căn phòng của tôi qua ba tiếng hát Khánh Ly, Thế Sơn và Trần Thái
Hòa, có lẽ nó không chỉ làm tác giả xúc động không mà thôi khi anh miệt
mài trau chuốt từng câu văn hay từng tiết tấu của nốt nhạc, nó còn làm
tim tôi rung động vì nhạc, vì lời và cũng vì những giọng ca tuyệt vời
chuyên chở những ý tưởng của tác giả làm tôi gợi nhớ Sài Gòn xưa hơn. "Tôi bước đi qua đường rừng chông gai tăm tối. Như cuộc đời ở lại từ khi mất người. Tôi bước đi như con rết lê lết cuộc đời, Như thân bướm đôi cánh rã rời, Lấy u sầu che dấu tả tơi..."
Đã
từ lâu rồi tôi muốn có một bài viết ghi nhận những cảm quan của mình về
nghệ sĩ Nam Lộc vì những bài nhạc do anh làm. Phải nói rằng nhạc anh
làm không nhiều như nhiều người sáng tác tại hải ngoại. Tôi có quen
những thân hữu có số lượng nhạc khá nhiều, có người hơn 300 bài nhạc,
hay người được hơn 500 bài, nhưng họ chưa có cái may mắn để đẩy nhạc họ
lên cao. Với anh Nam Lộc lượng có lẽ ở hàng chục mà thôi, tuy nhiên hầu
hết những nhạc phẩm do anh sáng tác được công chúng đón nhận thật nồng
hậu. Tôi ví dụ như các bài trước biến cố 75 như "Chỉ còn là giấc mơ
qua", "Anh đã quên mùa thu" hay "Trưng Vương khung cửa mùa thu" rồi đến
những sáng tác sau năm 75 như "Sài Gòn ơi, vĩnh biệt", "Người di tản
buồn" hay "Xin đời một nụ cười".Tôi
biết đến tên anh lần đầu khi anh soạn lời Việt bài "Yellow Bird", viết
bởi các nhạc sĩ Mariln Keith, Alan Bergman và Norman Loboff theo âm điệu
rumba du dương của hải đảo Jamaica, thuộc vùng nhiệt đới Caribbean, bài
nhạc ra đời năm 1957, để rồi anh cho Việt hóa lời nguyên thủy Anh ngữ
nói về nàng két hoàng vũ bay nhảy đu đưa trên cành chuối, rồi chim bay
mất hút như cô bạn gái hẹn hò để rồi không đến để người bạn trai lòng
buồn sầu vơi. Bài ca này được chuyển ngữ qua lời Việt rất dễ thương dưới
tên "Chỉ còn là giấc mơ qua", lời mang ý tình tự xao xuyến khi được anh
Nam Lộc biến dạng qua lời nhớ nhung, bâng khuâng mộng lòng trong phút
giây chờ đợi hẹn hò người yêu, như mùa tình yêu đang đến, những lưu
luyến khi nhìn người bạn gái dáng e ấp dưới ánh nắng hanh vàng đón nàng
trước cổng trường.
“Như làn mây, tình yêu thôi, giờ đây lững lờ Như làn gió, tình yêu thôi giờ đây hững hờ. Rồi một lần xa cách là một đời than trách Rồi cuộc tình bay mất và một người đi khuất Tình chỉ còn cay đắng đời chỉ còn xa vắng Và chỉ còn nắng vương cuối đường…”
Năm
1973 tôi nghe tape nhạc trẻ có bài này trong tâm tư say mê, nghe đi
nghe lại cả chục lần và rồi tập hát cho cô bạn gái tôi nghe trong những
lần picnic hay du ngoạn tại Lái Thiêu, Biên Hòa hay Long Hải. Tôi gặp
tác giả bài hát này vài lần khi anh cùng anh Joe Marcel vào cư xá Bạch
Đằng, gần góc đường Lê Thánh Tôn và Cường Để, khi ghé thăm gia đình
trung tá Ninh HQ, vì ông là anh rể của anh Joe Marcel. Tôi có nhắn anh
Nam Lộc là tôi rất thích bài "Chỉ còn là giấc mơ qua" do anh chuyển ra
lời Việt. “Thương người thương, ngàn xưa ơi, ngàn sau nét cười Vương sầu vương, đường xưa nay giờ đâu bóng người. Tình lịm màu tan vỡ lòng chỉ còn nhung nhớ Giờ một mình quên lãng lạnh lùng theo năm tháng Dù một lần em đã mềm lòng như chiếc lá Là một lần xóa dấu đớn đau…”
Đời
sống có thuở đi học, có thuở hẹn hò chờ em trước cổng trường như nhạc
phẩm "Bên Nhau Ngày Vui" của Quốc Dũng, như "Chuyện Hẹn Hò" của Trần
Thiện Thanh, như "Em Cứ Hẹn" của Hoàng Thanh Tâm hay nhạc phẩm của Nam
Lộc vang vọng những ngày xưa thân ái rót hồn mình ngân nga qua lời ca
tiếng hát:
”Em nhớ ngày, anh đón em góc trường E ấp, thẹn thùng, vấn vương Em nhớ ngày, anh đón em cuối đường Dù đường loang vết nắng nắng vẫn lung linh màu…”
Nam
Lộc bước vào làng âm nhạc như thế nào? Phần dưới đây xin trình bày cái
duyên văn nghệ đưa đẩy anh vào những thành công nối tiếp như một người
sáng tác nhạc chỉ vì nguồn cảm hứng của nghiệp dĩ đam mê âm nhạc. Nam Lộc và Phong Trào Nhạc Trẻ: Tôi
đọc bài viết cũ của anh Trường Kỳ, một người bạn thân thiết của anh Nam
Lộc (NL) mà trong phong trào nhạc trẻ khi xưa tên hai anh gắn bó như
bóng với hình khi tung hoành trên sân khấu nhạc trẻ Sài Gòn, cái tên
quen thuộc Trường Kỳ - Nam Lộc, anh Trường Kỳ (TK) cho biết là: “Lộc
cũng đã có ít nhiều sinh hoạt cùng quen biết với những nghệ sĩ trong
giới du ca và tình ca mà không có một liên hệ nào với phong trào nhạc
trẻ, bắt đầu hiện diện ở Việt Nam từ đầu thập niên 60. Khánh Ly, Trịnh
Công Sơn, Miên Đức Thắng, ...là những người anh thường gặp gỡ trong
thời kỳ có sự xuất hiện của quán Văn. Đó là một địa điểm sinh hoạt văn
nghệ nổi tiếng một thời và cũng là nơi những nhạc phẩm của Trịnh Công
Sơn bắt đầu chinh phục giới trẻ yêu nhạc qua tiếng hát của “Nữ Hoàng
Chân Đất” Khánh Ly. Sau khi quán Văn đóng cửa, với một đầu óc bén nhậy
để nhìn thấy được chiều hướng thưởng thức nơi lớp khán giả trẻ yêu nhạc,
Lộc quyết định khai thác tiệm cà phê Quán Gió với mục đích để Khánh Ly
và Trịnh Công Sơn có địa điểm phổ biến tác phẩm và giọng ca của mình. Nhưng không khí của quán Văn ngoài trời ngày nào đã không có thể tìm
thấy được nơi Quán Gió. Khách đến đây thích ngồi nhâm nhi bên ly cà phê
giữa bốn bức tường trong ánh sáng mù mờ hơn là nhất thiết chỉ để nghe
nhạc. Dự định của Lộc vì vậy không thành, dù Trịnh Công Sơn từng đôi lần
hát trước khán giả Quán Gió trong những lần tổ chức bỏ túi rất giới hạn
người nghe. Tuy nhiên Quán Gió cũng tạo cho mình một thế đứng đặc biệt
với những buổi tổ chức văn nghệ trong bầu không khí thân mật và ấm cúng
với những nghệ sĩ từng tới đây sinh hoạt như Từ Công Phụng, Khánh Ly,
Miên Đức Thắng, vv...”. Anh TK viết tiếp là: “Sau khi quyết định
đến với phong trào Nhạc Trẻ, Lộc cảm thấy có nhiều gần gũi để dần dần
đi vào hoạt động một cách tích cực sau đó ”tại vì thực sự là trước khi
gặp ông, tôi đâu có một người bạn thân nào đâu. Tôi có nhiều bạn nhưng
không có bạn thân. Gặp ông thì hai đưá như có một sự tâm đầu, nó hợp
nhau .Hợp nhau từ cách sống, hợp nhau từ cách nói chuyện , gặp nhau từ
cách sinh hoạt thành ra nó hợp “gu”. Thành ra tôi lên sinh hoạt với ông
nhiều”, như lời Nam Lốc tâm sự với tôi. Phần tôi, nhận thấy nơi Lộc là
một con người nhanh nhẹn, ăn nói khéo léo với nhiều sáng kiến nên tin
tưởng anh là một người sẽ cùng với mình và Tùng Giang – quen với tôi 2
năm trước đó – góp sức để phát triển phong trào nhạc trẻ.
Từ khi quen
biết, Lộc thường xuyên tham dự những chương trình nhạc trẻ do tôi tổ
chức ở vũ trường “Chez Jo Marcel” ( sau đó đổi tên thành “Đêm Mầu Hồng”
), rồi tới Queen Bee. Một lần bận việc bất ngờ trong lúc chương trình
“Hippies À Gogo” đang diễn ra, tôi đã dúi “micro” vào tay Lộc để nhờ anh
thay thế công việc giới thiệu chương trình. Dù không sửa soạn trước,
nhưng Lộc đã ứng biến rất nhanh để hoàn thành một việc đầu tiên trong
đời rất suông sẻ. Sự kiện này khởi đầu cho nghề MC của anh tại hải ngoại
sau này. Thời gian kế tiếp, thỉnh thoảng Lộc vẫn lên sân khấu giới
thiệu những ban nhạc trình diễn tại “Hippies À Gogo” với nhiều thích
thú.
Không đầy một năm sau, Khánh Ly đứng ra khai thác chương trình ca
nhạc tại vũ trường Queen Bee và mời Lộc ở lại thực hiện một chương trình
nhạc trẻ hàng tuần, trong khi tôi dời chương trình của mình về vũ
trường Ritz do Jo Marcel khai thác trên đường Trần Hưng Đạo. Dưới mắt
mọi người, đây là hai chương trình “cạnh tranh” với nhau, nhưng thực tế
chúng tôi vẫn trao đổi những ban nhạc trình diễn cho cả hai chương trình
với số lượng khán giả trẻ luôn luôn đông đảo tại cả hai nơi. Từ đó có
thể coi Nam Lộc chính thức đến với phong trào Nhạc Trẻ và luôn sát cánh
với Jo Marcel, Tùng Giang và tôi trong mọi tổ chức với nhạc trẻ giữ vai
trò nồng cốt. Chẳng hạn như những cuốn phim về Nhạc Trẻ do Nhóm Jo
Marcel thực hiện như “Thế Giới Nhạc Trẻ” và “Vết Chân Hoang” mà Lộc cũng
góp không ít công sức. Đối với giới Nhạc Trẻ, tên tuổi Nam Lộc đã trở
nên quen thuộc và tạo được khá nhiều uy tín.” Nam Lộc và Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ: Như
VH nói sơ qua ở phần trên từ năm 1972, nhạc sĩ Nam Lộc cũng là một
trong những người tích cực nhất đối với phong trào Việt hoá nhạc ngoại
quốc bằng cách viết lời Việt cho những ca khúc thịnh hành từ các ngôn
ngữ Anh, Pháp và Hoa. Sự đóng góp của anh nằm trong quan niệm muốn tạo
điều kiện cho giới trẻ về nguồn và gần gũi với tâm tình và ngôn ngữ của
người Việt hơn qua những lời ca hoàn toàn bằng tiếng Việt. Đối với anh
phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ cũng nằm trong niềm thao thức về mặt xã hội
mà anh ấp ủ.
Trong phạm vi này, NL đã phát triển ý nhạc vượt bực trong
tâm hồn yêu mến văn nghệ của mình, mặc dù anh không phải là một nhạc sĩ
chuyên nghiệp chính thức khi ấy, chưa bao giờ anh thực thụ học lý thuyết
nhạc hẳn hòi từ các trường lớp huấn luyện chuyên nghiệp, ngoài việc học
hỏi lóm nơi bạn bè để có thể sử dụng guitar một cách đơn sơ đủ hiểu căn
bản cách ghép nhạc. Thuở ban đầu ấy, NL góp ý về giai điệu và viết lời
cho nhạc phẩm “Anh Đã Quên Mùa Thu” cùng với nhạc sĩ Tùng Giang. Sau đó
là nhiều nhạc phẩm ngoại quốc được anh chuyển sang lời Việt bằng cách
dựa trên giai điệu của nhạc phẩm chính mà anh rung cảm, đặc điểm là anh
hoàn toàn không quan tâm đến phần nội dung lời ngoại ngữ như các bài Dĩ
Vãng Buồn (I’ll Never Fall In Love Again), Phút Bên Em (L’Amour Avec
Toi), Dòng Đời (My Way), Tình Ca Cho Em (Goodbye To Love), Như Mùa Thu
Lá Bay (Ben), Mây Lang Thang (A Cowboy’s Work Is Never Done), Một Thời
Để Yêu (Les Amoureux Qui Passent), Chỉ Là Giấc Mơ Qua (Yellow Bird),
v.v... Lý do rất dễ hiểu là vốn liếng sinh ngữ của anh khi đó tương đối
không nhiều lắm như anh cho biết.
Tuy vậy, nét đặc sắc trong
cách viết lời Việt của NL phải nói là ở nghệ thuật phô diễn cách dùng
chữ vô cùng sâu sắc và khéo léo khiến người nghe quên hẳn nguồn gốc nhạc
ngoại quốc của nhạc phẩm đã được hoàn toàn Việt hoá như chủ trương của
phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Điển hình là hai nhạc phẩm “Trưng Vương
Khung Cửa Mùa Thu” và "Chỉ Còn Là Giấc Mơ Qua", tôi nghe mà cứ ngỡ là
nhạc Việt nguyên thủy được sáng tác. Nếu ai chỉ nghe qua mà chẳng màng
tìm hiểu về nguồn gốc của bài nhạc thì NL được luôn music credit vậy.
“Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” chính là nhạc phẩm “Tell Laura I Love
Her “ với thanh âm rất ăn khớp hay giai điệu rất thích hợp cho lời ca
bằng tiếng Việt, hoàn toàn khác biệt với nội dung của bài nhạc Mỹ nguyên
thủy: “Tim em chưa nghe rung qua một lần Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần Tình trần mong manh Như lá me xanh Ngơ ngác rơi nhanh
Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày Những ngày đợi chờ Đợi người qua cơn mơ Trong nắng vu vơ Trong mắt ngây thơ Nhớ khói bay lạc vấn vương Cho hơi ấm lên môi người
...... Lời
sau cùng của bài viết này, trong sự suy nghĩ riêng tư của tôi về Nam
Lộc là anh đã thật sự thành công trên cả hai phương diện văn nghệ và xã
hội: Về mặt văn nghệ, có lẽ không ai không biết anh là một Nam
Lộc nhạc sĩ, dù rằng do nghiệp dĩ hay do duyên nợ, với một số ca khúc
tiêu biểu cho tình yêu và cuộc sống tị nạn ly hương đã đi sâu vào tâm
hồn người thưởng ngoạn. Anh còn là một Nam Lộc MC, chững chạc qua phong
cách xuất hiện trước công chúng, nhưng hẳn không kém qua nét vui tươi,
dí dỏm. Về mặt xã hội, anh là một Nam Lộc, giám đốc cơ quan USCC
vùng Los Angeles. Nam Lộc tận tụy với những giúp đỡ cho đồng hương về
những nỗ lực di trú, xã hội. Nam Lộc đến với tuổi trẻ vươn lên trong
dòng chính, người đồng hành của những ngườì cao niên, những cựu tù nhân
CS sống đời tạm dung trên đất Mỹ, cần đến với Nam Lộc những kiến thức
căn bản đối với những điều khoản chuyên môn về luật di trú. Sau hết anh
là Nam Lộc của người tị nạn bất hạnh, "The Unforgotten Ones".
Với
những đam mê trong nghề nghiệp, hay những cảm nghĩ gửi gấm nỗi lòng
trong những khúc hát của anh, tôi xin dược viết lại những đặc điểm của
một người anh, một người bạn hay một người đồng hương đã đi sát với
những người di tản buồn ly hương sau biến cố mất miền nam của tháng 4
đen, 1975, cho đến những người tị nạn CS cùng kẹt vềsaunày.
Trong những năm học ở trường Nữ Tiểu Học Phan Thiết (1960-1966), có ba
điều tôi ao ước mà không bao giờ được toại nguyện. Thứ nhất, được cầm
cái chùi gỗ để đánh ba tiếng trống thùng thùng thùng những khi vào lớp,
khi ra chơi, khi tan trường, với những điệu trống dài ngắn khác nhau.
Tiếng trống sao rền vang, sao oai nghiêm, chị đánh trống sao mà oai
quá, mình cũng muốn được oai như chị ấy nhưng không bao giờ được cô chỉ
định.
Thứ hai, đứng kéo cờ mỗi sáng và mỗi chiều. Tôi ước ao được cô chọn
với một học sinh khác, cho đứng dưới cột cờ. Khi ấy, tất cả sẽ chăm
chăm nhìn đôi tay tôi khéo léo tháo sợi dây thừng, gương mặt nghiêm
trang ngước cao hãnh diện nhìn theo lá cờ vàng ba sọc đỏ lên nhẹ nhàng
hay xuống từ từ cho đến khi bài quốc ca ”Này Công Dân Ơi!” chấm dứt.
Tất cả sẽ chăm chú nhìn đôi tay tôi và nhỏ bạn nhanh nhẹn xếp gọn lá cờ
làm hai, làm tư, làm tám.
Thứ ba, được ở trong đoàn lân dẫn đầu đoàn diễn hành mỗi đêm Tết
Trung Thu. Ở nhà, tôi đã đội cái gối, trùm cái mền, thằng em đánh trống
miệng cho tôi tập dơ cao chân, sải bước dài, hai tay đưa gối qua lại
theo nhịp trống miệng. Vậy mà cô không chọn tôi. Cô không chọn tôi múa
lân, cũng không cho tôi làm ông Địa, càng không cho tôi ôm cái trống
trước bụng đánh thùng thùng và cũng không chọn tôi đi phía sau cầm cái
đuôi con lân. Sao mà tụi nó có phước quá vậy! Nhất là chị Xí, bạn Xê,
năm nào cũng dẫn đầu đoàn múa lân của trường Nữ Tiểu Học. Còn tôi,
ngoan ngoãn xếp hàng phía sau đoàn lân, vừa đi vừa chạy vừa ráng giữ cho
thẳng hàng. Hân hoan với đêm hội trăng rằm!
Rước đèn đêm trung thu gắn liền với tuổi-thơ-Phan-Thiết như mái
nhà tranh đơn sơ không thể thiếu trong bất cứ một bức tranh đồng quê
Việt Nam. Và cũng có thể nói; đêm trung thu đối với người dân Phan
Thiết là món quà tô điểm đời sống tỉnh lị, món quà đến mỗi năm, nhận
được mà không cần cám ơn. Không cần thông cáo về ngày giờ hay địa điểm,
khi trời vừa chập tối thì tự động người dân rủ nhau tụ tập hoặc ở
Vườn-Bông-Lớn bên kia cầu hay Vườn-Bông-Nhỏ bên phố để chờ đoàn diễn
hành tụ về.
Từ khắp nẻo đường, đoàn diễn hành của các trường tiểu học công Nam
Phan Thiết, Nữ Phan Thiết, Đức Thắng, Bình Hưng, Đức Nghĩa, Phú Trinh,
Đức Long nằm rải rác quanh tỉnh lị lần lượt tụ về. Mỗi trường một kiểu
đèn lồng, hàng lớp thẳng tắp, đi theo sau đoàn lân của mình.
Ánh đèn
cầy lấp lánh sau lớp giấy màu mỏng đủ mầu sắc, gương mặt vừa hân hoan
vừa hãnh diện, bước chân vừa nhanh cho theo kịp đội lân phía trước vừa
ráng giữ hàng lớp ngay ngắn vừa cẩn thận để cây đèn nhỏ như ngón tay
không chao làm cháy đèn; đoàn diễn hành rời cổng trường với quyết tâm
chiếm giải năm nay. Đám con nít hàng xóm cũng là học sinh lớp nhỏ chạy
theo hai bên đoàn diễn hành, người người hân hoan đổ ra đường đón chào
làm cho những học sinh lớp nhì và lớp nhất cảm thấy như mình là tâm điểm
và cũng là niềm hy vọng củaấp mình Điểm nổi bật nhất của mỗi đàn diễn hành là đội lân của trường.
Đội lân là do học sinh tự tập tự diễn, gồm bốn-năm người thay nhau múa
lân và cầm đuôi, ông địa bụng bự đội mặt nạ lúc nào cũng nhe răng cười
phe phẩy cái quạt dẫn đường, người đeo cái trống trước bụng, người cầm
hai cái xeng giống như nắp nồi bằng đồng. Tiếng trống khi nhặt khi dồn
dập, tiếng xeng khi mạnh khi cạ nhẹ, bước lân khi giơ cao khi sãi dài,
đuôi lân lượn qua lượn lại, ông địa lúc chạy lúc thư thả, nhưng lúc nào
cũng phía sau tấm bảng lớp để tên trường, đội lân dẫn đoàn diễn hành của trường mình qua đường phố. Quanh nhà lục giác trong vườn bông lớn, các trường xếp hàng chờ
loa gọi tên.
Khi một trường được gọi tên, lồng đèn lớn của trường được
nâng cao lên, đoàn lân múa vài điệu mẫu, học sinh giơ cao đèn cá nhân,
đồng hát và hô khẩu hiệu. Điểm lồng đèn lớn đại diện cho trường, điểm
đoàn lân, điểm diễn hành trật tự, điểm lồng đèn học sinh, tất cả được
cộng lại để chấm giải. Năm nào tôi cũng mang nỗi hân hoan trường mình
được giải nhất (?), mau chân về nhà để được bánh kẹo mặc dù buổi chiều
trước khi diễn hành, học sinh tập trung ở sân trường và đã được cô phát
cho mỗi đứa một cái bánh trung thu nhỏ. Nhưng sau vài giờ rước đèn,
viễn tượng bịch kẹo bánh đang chờ ở nhà càng lúc càng hối thúc bước
chân.
Mỗi năm, ba tôi hợp với vài gia đình trong xóm Phố Ba Mươi Căn có
con cùng lứa với chị em tôi, tổ chức phát bánh kẹo. Chú Sáu Sang có hai
người con là Thanh Hiền và Hoàng Minh cùng tuổi với tôi và em trai tôi
nên thường tham gia.
Chúng tôi hát, cười giỡn, ngốn ngoán kẹo bánh,
trầm trồ lồng đèn của nhau. Vài chiếc lồng đèn giấy kiếng trong sắc màu
lộng lẫy trở nên lạc lõng giữa những lồng đèn bánh ú không được thẳng
góc mấy nhưng dán đầy bông giấy, lồng đèn mặt trăng không được tròn trịa
nhưng có đường viền tua tủa đủ màu sắc, lồng đèn ngôi sao góc cạnh vụng
nhưng được che lấp bởi những chùm giấy màu nhuyễn cọng…
Những lồng đèn con thỏ, con cá, ngôi sao, trống quân… làm bằng
giấy kiếng trong đủ màu sắc được tô điểm bởi những nét vẽ của bàn tay
nghệ nhân, được uốn cong khéo léo của những ngón tay nhà nghề treo lủng
lẳng trước các cửa tiệm bên phố không bao giờ hiện diện trong nhà tôi.
Mắc và phí của! Như đa số các gia đình có con trẻ, một ngày đẹp trời,
má tôi đi chợ về, bày ra bàn bó sống lá và một xếp giấy đủ màu. Tuy
giấy màu mỏng loại rẻ tiền nên đục đục chứ không trong khiết như giấy
kiếng, nhưng đủ để ánh sáng lấp lánh từ cây đèn cầy làm hân hoan niềm
vui con trẻ. Quậy hồ, ngâm sống lá, vuốt cây, cắt dán, chúng tôi miệt
mài làm hết cái lồng đèn này tới cái lồng đèn khác. Giấy màu được ưu
tiên làm lồng đèn theo kích thước và kiểu mẫu do nhà trường hướng dẫn. Còn lại là chị em tôi tha hồ làm đủ kiểu lồng đèn cho mỗi đứa. Và những
chiếc lồng đèn sắc màu tươi mắt, ren tua tủa, hoa giấy uốn cong cánh
điểm tô, theo vào giấc ngủ trẻ con, tô thắm niềm vui mùa trung thu.
Cả
tuần! Đêm trung thu, đêm uống trà ngắm trăng, đêm thả đèn trên giòng sông Cà
Ty êm đềm. Đó là chuyện người lớn! Với tôi, tôi chẳng bao giờ bận tâm
đến ánh trăng có vàng rực hơn, cũng chẳng tò mò xem coi mặt trăng có
tròn to hơn, và càng không có đủ kiên nhẫn đứng ngắm ánh đèn trôi nhẹ
nhàng trên mặt nước trong đen. Làm lồng đèn, được ăn bánh trung thu
chung với bạn bè, được đi diễn hành, được bánh kẹo và nhất là… nhất là
khi về đến nhà thì lại được má chia cho một góc tư cái bánh trung thu
beo béo tròng đỏ trứng gà nằm ngạo nghễnh giữa hỗn hợp mứt bí và hạt dưa
ngọt ngây ngọt lịm. Và chắc cũng chẳng kịp rửa chân chứ nói chi đến chuyện đánh răng, dành
được cái gối ôm, tôi lăn ra góc mùng, đi nhanh vào cõi mơ rộn ràng mà
yên bình, miệng nhẻo nụ cười thỏa mãn. Võ Thị Điềm Đạm ~~~~~~~~~~~~~ @@ Camly nhớ mãi những mùa Trung thu Saigon ...với lồng đèn con bướm ,con cá ,hay
chỉ là những lon sữa bò ,lon beer được chế thành chiếc đèn có bánh xe
đơn giản của các bạn hàng xóm nắm tay rủ nhau đi rước đèn khắp xóm ,khi Cly + đám bạn
về nhà bà ngoại ,mẹ ,dì út đã chuẩn bị xong : bánh dẻo ,bánh nướng con heo và nước ngọt ,trái cây, lũ con nít từ 5t -12t ngồi quây
quần vui vẻ ca hát .... Kỷ niện tuổi thơ thật đẹp và trăng rằm tháng 8 lung linh huyền ảo .....
Năm nào cũng vậy. Cứ đến cuối năm là tôi lại bồn chồn muốn bay về
Melbourne ăn Giáng Sinh, tất niên với gia đình, bè bạn. Tuy đây không
phải là nơi tôi sinh ra nhưng nó là nơi tôi đã lớn lên và trưởng thành
trước khi bôn ba với cuộc sống ở nhiều nơi, trên nhiều nước. Ở
một phương diện nào đó, Melbourne đã có nhiều thay đổi. Nếu như trong
thập niên 1980, 1990, hầu như không có một ai sống ngay trong khu trung
tâm thành phố thường được gọi tắt là CBD (Central Business District) thì
trong những năm gần đây có đến trên 40,000 người chọn sống trong ngay
khu phố xá CBD đông người qua lại này.
Cũng vì vậy mà mấy hôm
nay đi vô city (nói theo kiểu người địa phương) tôi thấy Melbourne trông
có vẻ như đông đúc, chật chội, ồn ào hơn. Mặc dù nó vẫn chỉ là thành
phố lớn thứ hai của nước Úc (sau Sydney) với dân số khoảng độ chừng 4
triệu người. Nhưng nơi đâu, lúc nào cũng tấp nập người qua lại nhất là ở
các tiệm ăn, quán uống của người Á Châu gần khu Chinatown ngay góc
đường Little Bourke và Russell. Không như những thập niên trước
đến Chủ Nhật là hàng quán, shopping đều đóng cửa, thành phố vắng tanh
chẳng có một ai thì bây giờ những ngày cuối tuần lại là lúc phố xá lên
đèn rộn rịp nhất với đủ màu da, sắc tộc sinh hoạt, mua bán, sống chung
đụng gần nhau. Có thể nói bộ mặt của Melbourne CBD trong thập niên 2000 đã được hoàn toàn thay đổi. Theo các sách báo cho biết những sinh viên du học và thành phần di dân
trẻ có tay nghề cao là những người có công trong việc giúp cho thành phố
Melbourne có một bộ mặt mới. Không biết các bạn có biết không nhưng từ
lâu giáo dục đã trở thành một trong những kỹ nghệ lớn nhất của nước Úc
với hàng trăm ngàn sinh viên đến du học từ khắp mọi nơi, nhất là từ Á
Châu. Trung bình mỗi sinh viên phải trả lệ phí học từ 30 đến 40
ngàn đô mỗi năm chưa kể tiền nhà, tiền ăn, sinh hoạt mỗi ngày. Riêng đối
với những di dân đến nước Úc qua diện có tay nghề cao (skilled
migration), đa số đều là những người có học thức cao, có nghề nghiệp
vững chắc với bản chất cần cù, lương thiện. Họ chính là những người bươn
chải nhất đã và đang giúp nước Úc phát triển ngày càng giàu mạnh.
Nếu
như mỗi năm nước Úc chỉ nhận khoảng 12,000 người di dân qua diện nhân
đạo (trong đó bao gồm cả những người tỵ nạn) thì từ đầu thập niên 2000
cho đến nay, mỗi năm nước Úc cấp gần 200,000 visa cho phép những người
có tay nghề cao sang nước Úc định cư vĩnh viễn. So với dân số của cả
nước chưa đến 23 triệu người thì đây rõ là một con số khá lớn. Cả
hai thành phần này đa số lại là những người Á Châu đến từ những thành
phố lớn sầm uất nhất thế giới như Hồng Kông, Seoul, Bombay, New Dehli,
Kuala Lumpur, v.v…từ nhỏ họ đã quen sống ở những nơi chật hẹp, đông đúc
người qua lại nên việc họ chọn ở ngay khu trung tâm thành phố thay vì ở
những khu suburb xa, vắng vẻ âu cũng là điều dể hiểu. Nếu có
dịp, chắc chắn các bạn nên ghé thăm thành phố Melbourne nằm ngay góc
đông nam của lục địa Úc Châu.
Vì xen lẫn những khu phố nhỏ phủ đầy cây
xanh phảng phất vẻ đẹp cổ kính của những thành phố ở Châu Âu là sự náo
động, ồn ào mà bạn đã từng thấy ở những khu đô thị trong vùng Đông Nam
Á. Có thể nói cho đến nay Melbourne đã may mắn dung hòa được cái gọi là
‘the best of both worlds’ – những gì tốt nhất của hai thế giới Đông và
Tây.Nhưng trên một phương diện nào đó, đối với riêng tôi, Melbourne vẫn vậy
không một chút thay đổi. Khu Glenroy nơi ba mẹ tôi định cư gần 30 năm
nay vẫn thế, không đông hơn, cũng chẳng ồn ào hơn tuy nó cách trung tâm
thành phố chỉ độ chừng 15 phút lái xe. Vẫn khu chợ Coles nhỏ bé với vài
hàng quán, tiệm bánh mì, take away.
Vẫn những căn nhà vách gạch, mái
ngói với sân cỏ trước sau. Và những con người bình dị, hòa đồng, hiếu khách. Đám
bạn tôi cũng thế. Ai cũng có từng ấy việc làm, một chồng, một vợ với
hai ba đứa con chạy quanh nhà. Nhà cửa, xe cộ, cơ nghiệp ai cũng có. Và
hạnh phúc với những gì chúng nó đã đạt được. Năm nào tôi về chúng nó
cũng hỏi tôi: mày có định về lại đây không?Có chứ. Năm nào về
lại Melbourne, mỗi tối trên quãng đường về nhà quen thuộc, tai nghe
tiếng hát nhẹ nhàng trầm ấm của Michael Buble trong nhạc phẩm nổi tiếng
‘Home’ tôi cũng muốn quay về:
Another summer day has come and gone away Paris or Rome, but I wanna go home (Một ngày hè đã đến và đi, Paris hay Rome, nhưng tôi muốn về nhà) Maybe surrounded by a million people but I still feel all alone I just wanna go home (Quanh tôi có thể là hàng triệu người, nhưng tôi vẫn thấy cô quạnh, tôi chỉ muốn về nhà) Tiết tấu nhạc vừa chậm, vừa buồn lại càng làm cho tôi muốn quay trở về
nơi luôn cho tôi có cảm giác thật bình yên, lắng đọng. Nhưng có lẽ mỗi
người một số phận. Ngay cả khi ý muốn của chúng ta là được sống gần gia
đình, gần cha mẹ nhưng thực tế và những hoài bão riêng tư của mỗi người
sẽ mang ta đến nơi mà cũng chính ta tự chọn cho là ‘home’. Và như trong bài blog tuần trước tôi đã chia xẻ với các bạn: Home is where the heart is.
Ði
đâu xa tôi vẫn nhớ những con hẻm nhỏ của Sài-gòn. Tôi đã may mắn được
đi hết năm châu bốn biển, nhưng chưa thấy quốc gia nào có những con hẻm
nhỏ như ở Sài Gòn.
Ở Hồng Kông chỉ có những tòa nhà chọc trời, những đường xe điện ngầm
"xuyên bang", với hàng quán shopping tấp nập như một thành phố bên dưới
một thành phố, không cách chi tìm được một con hẻm nhỏ.
Ở Thái Lan có những đêm tôi tò mò thả bộ suốt đêm để tìm hiểu dân tình
và... đường xá. Những con hẻm ở Băng-Cốc so với Sài Gòn là những con hẻm
lớn. Ở
Cam-pu-chia có thể là có những con hẻm gần giống với Sài Gòn, nhưng vẫn
khó tìm ra được những con hẻm nhỏ. Nói "có thể" vì tôi chưa sống qua
một thời gian lâu dài ở nước này, nơi mà ngay cả nhiều người Cam-bốt
kiều (?) cũng không dám về, do tình hình bất an với me xanh me đỏ - Khờ
Me xanh, Khờ Me đỏ - cộng thêm sự tranh chấp dữ dội giữa chánh quyền
Hunsen và Shihanouk
.Tôi
cũng tò mò tìm vào những xóm nhỏ, nhưng tựu trung chúng vẫn là những
con hẻm lớn hơn so với những con hẻm Sài-gòn, dù là rất dơ bẩn, nước
sình bùn chảy dài trong khi dân cư họp chợ ngồi chồm hổm lổng nhổng trên
mặt nước.
Ở Băng Cốc cũng có những khu chợ sình ngập đến gần mắt cá, mang dép bước vào là hai bàn chân ngập sình đen ngòm.Nhưng vẫn không tìm được những con hẻm nhỏ.Khi
trước nhà tôi ở quận Ba, trong hẻm Niệm Phật Ðường Huệ Quang ngó ra
đường Phan Ðình Phùng, sau này đổi tên thành đường Nguyễn Ðình Chiểu.
Hẻm này thông ra một cái chợ gần trường tiểu học Bàn Cờ. Cái chợ này
sáng sớm đã ồn ào, với những hàng xôi, chè, bánh mì, chè, cháo, bánh
xèo, bánh cuốn, bánh mì hấp, bánh bèo Mỗi sáng tôi thường ra đây làm gói xôi hoặc khúc bánh mì.
Gọi là khúc chứ không phải ổ, vì ổ bánh mì rất dài và ốm, được cắt thành
từng khúc bán cho người ăn sáng. Hôm nào có tiền thì ăn bánh mì ba-tê,
thiếu tiền thì chỉ mua khúc bánh mì chan nước cá cũng xong bữa điểm tâm.
Gần chợ là trường tiểu học Bàn Cờ.
Từ đây đi bọc ra sau là khu Cư xá Ðô
Thành dẫn ra đường Phan thanh Giản, gần đó là bệnh viện Bình Dân, bên
kia đường xích về phía Lê văn Duyệt là trường Văn Học của nhà thơ Nguyên
Sa. Hầu hết những con hẻm này là những đường hẻm cỡ trung bình, đủ cho
xe ba gác đi lọt . Nhưng nối liền những con hẻm trong khu Niệm Phật
Ðường Huệ Quang là những đường hẻm rất nhỏ, có khi chỉ một xe Honda đi
vừa, hoặc chỉ vừa đủ cho hai xe đạp đi ngược chiều nhau .Lại có những đường hẻm rất nhỏ chỉ đủ cho một xe đạp hay một người đi .
Từ hẻm Niệm Phật Ðường Huệ Quang, có một hẻm nằm ngang, thông ra đến
ngoài đường Phan Ðình Phùng gần trường "Ô-Ro", cái tên chúng tôi vẫn
dùng để gọi một trường tiểu học khá nổi tiếng gần ngã tư Phan Ðình Phùng
- Cao Thắng. Hẻm này khá nhỏ và lắt léo, cong cong quẹo quẹo .
Ðầu
hẻm chỗ đâm ra đường Phan Ðình Phùng có một nhà thuốc Tây, nơi tôi vẫn
thường đến mua thuốc trụ sinh để trị bệnh mũi kinh niên của mình, mua
riết đến nỗi bà dược sĩ quen nhẵn mặt
Khúc đầu hẻm bề ngang chỉ đủ cho 2 xe Honda đi ngược chiều nhau. Nhìn xéo qua bên kia đường là nhà sách Thanh Bình.Ði xích xuống về phía đường Cao Thắng là nhà bảo sanh Hồng Ðức.
Cạnh nhà bảo sanh lại có một con hẻm nhỏ, bề ngang chỉ vừa đủ cho 2
chiếc Honda đi song song, hoặc đi ngược chiều một cách chật vật. Ở đầu
hẻm, một bên là nhà bảo sanh Hồng Ðức, một bên là Nhà vẽ Văn Phong, cũng
là nhà của Quy, một thằng bạn từ tiểu học.Con hẻm này đi suốt vào đến tận cùng là nhà của Mai, một thằng bạn tiểu học khác.
Thời tiểu học, tôi vẫn thường đi suốt con hẻm này vào nhà Mai, trước nhà
có một cái sân xi măng vừa đủ chơi, phía trên là một cái cây lớn có tàn
che mát những hôm trời nắng.Từ
con hẻm này, lại có con hẻm nhỏ đâm ngang, thông ra một con đường không
tên. Trên giấy tờ đường này cũng là một con hẻm, nhưng lại khá lớn, đủ
rộng cho xe chạy hai chiều, kể cả xe hơi và xe ba gác, nên chúng tôi vẫn
kêu nó là con đường. Ðầu đường mé Phan đình Phùng có tiệm giò chả Thanh
Hương.Giữa
đường là nhà mướn của nhà văn Nguyễn Ðình Thiều, đầu đường mé Trần Quí
Cáp là một đồn lính Ðại Hàn. Con đường này nối liền hai đường Phan Ðình
Phùng và Trần Quí Cáp. Mé đầu đường gần đồn lính Ðại Hàn lại có một con
hẻm nằm ngang, đầu hẻm trông như cái hầm, trong hầm có xe bán thức ăn.
Hẻm
này thông ra một con đường khác cũng nối liền Phan Ðình Phùng và Trần
Quí Cáp. Ðầu đường chỗ Trần quí Cáp là tiệm cá hấp Tám Lọ, đối diện là
trường tiểu học Minh Chánh. Cái hẻm ngang này khá "lớn", bề ngang đủ cho
ba xe Honda đi song song, hoặc hai xe đi ngược chiều thoải mái, nhưng
khúc giữa tóp lại, chỉ đủ cho một xe đi lọt.
Tôi và Mai thường hay đi
xuyên con hẻm này, vì gần chỗ Tám Lọ là một tiệm đá banh bàn, bề ngang
tiệm chỉ vừa đủ đặt một bàn banh và đủ chỗ cho một thằng học trò ốm yếu
như tụi tôi đi lách qua, lưng ép sát vào tường. Chiều dọc tiệm banh đủ
đặt bốn cái bàn.Ở cuối tiệm lúc nào cũng có bà chủ người Trung mặc bộ đồ bà ba ngồi đổi tiền giấy ra tiền cắc cho chúng tôi đá banh.
Tôi và Mai đã từng say mê đóng đô tại đây trong suốt những năm tiểu học.
Về sau, khi Mai sắp qua đời, tôi và nó còn đến đây đá thêm một trận nữa .
Năm đó chúng tôi học lớp 10. Sau cơn bạo bệnh, Mai bỗng nhiên tỉnh dậy
mạnh khỏe như thường, đến tìm tôi và chúng tôi lại rủ nhau đến đây đá
banh, có lẽ để hồi tưởng lại những ngày tiểu học, vì khi đó chúng tôi tự
coi mình như đã "lớn", không thèm chơi banh bàn nữa, mà chỉ thích ngồi
quán cà phê nghe nhạc tiền chiến, nhạc phản chiến hoặc nhạc kích động
của Mỹ, nhạc nào cũng mở lớn đến điếc con ráy, nói chuyện phải hét vào
tai nhau mới nghe rõ.Chỉ sau hai tuần đi thăm hết bạn bè, Mai bỗng nhiên bị cảm trở lại rồi qua đời . Năm lớp mười tôi đi chôn nó. Theo người ta nói, có lẽ nó "hồi dương", tỉnh dậy đi thăm bạn bè lần
chót. Tôi và Hoàng, thằng bạn chung xóm thi vô Ðệ Thất ba năm không đậu,
cuối cùng phải đi học trường tư, cùng với chị Lèo chung xóm đi đưa đám
Mai .Gọi Lèo là chị vì cô ta hơn tôi một tuổi, hình như cũng hơn một lớp, học lớp 11 hay gì đó.
Còn thằng Hoàng, dù hơn tôi hai tuổi mà vẫn xưng hô mày tao, vì nó với
tôi chơi chung như bạn, hai đứa cùng thi vào Ðệ Thất chung một năm với
em gái nó, vì nó thi rớt hai năm nên em nó bắt kịp.
Cuối cùng nó xui xẻo vẫn rớt, còn tôi thì đậu gần cuối sổ, nhưng cũng
may mắn vào được trường công. Lèo hồi đó vừa sang vừa đẹp, lại hơn một
tuổi, nên tôi không dám tán.
Sau ra nước ngoài, nghe tin thằng cháu kém tôi hơn mười tuổi đang cặp với.... "con Lèo", thật là hậu sinh khả ố!
Tuy đã đi qua nhiều hẻm nhỏ, nhưng có lẽ chưa con hẻm nào nhỏ cho bằng
con hẻm cạnh chùa Tam Tông Miếu đường Cao Thắng. Ðây là một con hẻm dài,
khá dài so với những con hẻm khác.
Hẻm này ăn thông từ đường Cao Thắng ra đến khu Cư xá Ðô Thành, khúc đi ra bệnh viện Bình Dân. Con hẻm này nhỏ đến nỗi chỉ có một xe đi lọt. Xe đạp thì đỡ hơn, còn Honda thì đi khá chật vật.
Ðặc biệt là có một khúc cua, xe nào cũng phải lách tới lách lui mkhỏi, rồi mới vào hẻm .
Nếu không cả hai xe sẽ kẹt trong hẻm, một xe phải lùi lại cho xe kia
tiến lên. Tôi rất thích đi xe đạp, và còn thích đi bộ hơn nữa trong con
hẻm này, không hiểu tại sao, có lẽ tính tôi hay tìm những ngõ ngách lắt
léo của cuộc đời.
Vì vậy nên đã có lần tôi đứng chờ em suốt ba ngày dưới mưa cạnh con hẻm này . Em
không thèm đến, nên tôi bỏ cuộc. Về sau em trở lại theo, tôi giận không
thèm, đi tìm em khác! Lúc trở về thăm xóm cũ thì cả hai đã tròm trèm
bốn mươi, em vẫn còn nói với tôi, em luôn luôn là người đi sau một bước.
A! Phải chi em chịu gặp tôi dưới mưa!... Ðúng vậy, có lẽ tôi là người đi sớm, quá sớm, nên
phải đứng dầm mưa tầm tã suốt ba ngày ướt nhẹp! Nhưng tôi biết, tôi đứng
dưới mưa vì thích thế, chứ chưa chắc là tôi cần em đến!??
Nói về hẻm thì kể mãi tới chiều cũng không hết.
Có
những con hẻm trong chợ Bàn Cờ gần cuối đường Phan Ðình Phùng thông ra
hông chợ ở đường Nguyễn Thiện Thuật.
Lại còn khu Vườn Bà Lớn trước Tết Mậu Thân, trong
Tết bị chiến tranh cháy rụi, về sau xây lại thành khu chung cư Nguyễn
thiện Thuật, tiếp giáp với đường Phan thanh Giản, đầu đường có trạm xăng
và Viện Bài Lao, gần đó là nhà của nữ tài tử cải lương Lệ Thủy.
Trước Tết Mậu Thân năm 68, tôi có lần vào Vườn Bà
Lớn mướn xe đạp đi chơi, bị mưa phải dắt xe đi bộ nước ngập đến đầu gối,
vừa đi vừa khóc vì lạc trong ma trận đầy dẫy những con hẻm nhỏ ngoắt
ngoéo không tìm được lối ra. Sau phải nhờ con nhỏ thua mình đến mấy tuổi
dẫn đường mới biết ngõ ra . Cũng lạ, nghĩ lại sao hồi đó người cho mướn
xe không sợ, mà người mướn là tôi cứ sợ không tìm được nhà người cho
mướn để trả xe!
Lại còn những con hẻm trong khu trường tiểu học
Phan Ðình Phùng, gần chùa Kỳ Viên Tự ở góc đường Phan Ðình Phùng và Bàn
cờ. Sát bên là trường tiểu học tư thục Bình Dân Học Hội và chùa Phước
Hòa . Trong khu này có những con hẻm thông ra Hồng Thập Tự, có những
"hẻm hầm", đi như đi trong hầm bên dưới núi, thông ra nhà thờ Ðức Bà hay
gì đó (không phải là Nhà thờ Ðức Bà hay Vương Cung Thánh Ðường gần Bưu
Ðiện). Những đường hẻm này dẫn ra đến công viên đường Hồng Thập Tự và
công viên "Ðại Hàn" đối diện trường Petrus Ký, gần bùng binh góc đường
Lý Thái Tổ và Hồng thập Tự.
Nằm gần đó trên con đường nhỏ ăn thông từ Nguyễn
thiện Thuật ra Lý thái Tổ là tiệm cà phê Năm Dưỡng, đối diện tiệm cà phê
trong một con hẻm nhỏ là nhà của nghệ sĩ Hùng Cường. Có lần đi ngang cà
phê Năm Dưỡng, tôi được thấy Hùng Cường tướng thật đẹp trai từ trong
nhà đi ra, cả khu phố nhìn theo với ánh mắt trìu mến và ngưỡng mộ.
Những con hẻm này cũng là khu tôi từng mài đũng
quần những năm tiểu học, buổi sáng học trường Phan Ðình Phùng, buổi trưa
học thêm trường Cô Hạnh.
Nhiều buổi tối rủ nhau ra công viên bắt dế cơm, dế
trống, gặp mấy đứa lạ đến làm quen rủ chơi năm mười tôi tự xưng tên Vũ,
tới khi nó gọi tên cũng không nhớ là nó gọi mình. Không hiểu sao nó lại
nhớ tên, trong khi chính mình cũng không nhớ. Nhưng mãi đến giờ mấy
chục năm sau tôi vẫn còn dùng tên này làm bút hiệu .
Những con hẻm nhỏ thân thương của Sài Gòn, tôi
nghĩ một ngày nào đó có lẽ cũng không còn, theo đà tiến bộ của hệ thống
giao thông và phát triển đô thị .
Nhưng tôi mong rằng chúng sẽ không thay đổi. Thật
ra, đối với tôi, chúng không bao giờ thay đổi . Ở Mỹ hơn hai mươi năm,
nhiều khi tôi vẫn cảm thấy mình như người khách lạ. Nhưng sau hai mươi
năm trở về khu xóm cũ, những người quen vẫn tay bắt mặt mừng, những con
hẻm thân thương vẫn hân hoan chào đón.
Tôi chợt hiểu ra! Ðường xá dù thay tên đổi họ,
những con hẻm và lối đi quen thuộc vẫn mãi mãi thuộc về tôi. Thành phố
vẫn thuộc về Lệ Thủy, Hùng Cường.
Nó mãi mãi vẫn là nắng Sài Gòn anh đi chợt mát của
Nguyên Sa, vẫn là khu phố quen thuộc với các vũ trường ăn chơi nhảy
nhót của Nguyễn Ðình Thiều.
Vẫn là thành phố vang vọng tiếng hát cải lương của
Thanh Nga, Bạch Tuyết và gánh Dạ Lý Hương. Những con hẻm nhỏ vẫn mãi
mãi là của Mai, của Lèo, của Hoàng và của tôi. Nhà cửa dù xây lên, đập
xuống, khu phố dù kẻ đi người ở, vẫn mang một linh hồn thủy chung không
thay đổi.
Cô gái Sài Gòn vẫn là người chinh phụ đi sau một
bước, suốt hơn hai mươi năm vẫn ngày ngày tựa cửa đợi chồng . Những
người mới dù vào Sài gòn hơn hai mươi năm vẫn là khách lạ, sống cô đơn
trong những khu phố đầy người tôi quen, những khu xóm quen thuộc mà tôi
rành từng cành cây, khúc quẹo. Những con hẻm nhỏ ôm ấp nhiều kỷ niệm vẫn vui mừng chào đón tôi về.
Những con hẻm thân thương đã cho tôi sự giao thông
cực kỳ tiện lợi và ấm cúng, những đường đi lắt léo trong những ngõ
ngách tế nhị của cuộc đời. Chúng vẫn mãi mãi thuộc về tôi!
~~~~~ NTDung ~~~~~ @ tks,t/g "rất đồng ý t/g diển tả đúng tâm trạng của riêng Cly ,nhớ lắm con hẻm
thủa thơ ấu và căn nhà hạnh phúc của gia đình bên cha mẹ + người thân
bao năm qua ở Sgon tôi yêu ".. Những con hẻm nhỏ ôm ấp nhiều kỷ niệm vẫn vui mừng chào đón tôi về. " Sgon ,,,,,Sgon một thời để yêu để nhớ .! Camly 09/2012 09/2012